Liên kết web
Thăm dò
Thống kê truy cập

null Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hiện quyền con người trong giai đoạn hiện nay

Tin tức|Tin tức sự kiện|Tin tổng hợp
Thứ tư, 27/01/2021, 07:58
Màu chữ Cỡ chữ
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hiện quyền con người trong giai đoạn hiện nay

Quyền con người là một vấn đề thiêng liêng, thể hiện giá trị nhân văn phổ quát mang tính lịch sử lâu đời, có nội dung rộng lớn, phức tạp và hết sức nhạy cảm. Mỗi con người không phân biệt quốc tịch, chủng tộc, sắc tộc, giai cấp, giới tính, tôn giáo đều có những quyền giống nhau. Đó là quyền sống, quyền bình đẳng, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Đây là những quyền liên quan trực tiếp và máu thịt không thể tách rời trong mỗi con người; giữ vai trò chính yếu của cuộc sống đối với mỗi cá nhân, nó gắn liền với nhân phẩm, tự do, khả năng hoàn thiện về nhân cách và thực hiện những khát vọng trong cuộc sống riêng tư cũng như về mặt xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người tiếp cận vấn đề quyền con người từ rất sớm và cũng là Người đại diện tiêu biểu nhất những tư tưởng tiên tiến về quyền con người. Có thể khẳng định rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người bắt nguồn sâu xa từ lịch sử, không ngừng được bổ sung hoàn thiện và đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị để chỉ dẫn cho sự nghiệp bảo vệ và phát triển quyền con người của chúng ta.
Trụ cột có tính chất pháp lý quan trọng khẳng định các quyền cơ bản của dân tộc Việt Nam thể hiện cô đọng trong Tuyên ngôn độc lập được Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo được công bố trước quốc dân đồng bào và thế giới ngày 2-9-1945. Mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập là hai câu được trích dẫn từ “tuyên ngôn độc lập” của Hợp chủng Hoa Kỳ (1776) và “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của cách mạng Pháp (1789) đều nói đến quyền con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức một cách sâu sắc những tư tưởng nhân quyền mang tính khoa học, cách mạng có giá trị bền vững đối với nhân loại, trong bản tuyên ngôn đó là “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyến mưu cầu hạnh phúc”. Theo đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định một chân lý vĩnh hằng “tất cả dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do”. Và đối với thế giới, Tuyên ngôn độc lập đã đánh dấu một kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội chính và là nền tảng pháp lý đầu tiên khẳng định cả trong tư tưởng lẫn trên thực tế về quyền sống trong độc lập, tự do hạnh phúc của dân tộc Việt Nam.
Hiến pháp đầu tiên do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp soạn thảo ngay khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi mới ra đời ngày 9-11-1946 khẳng định: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa”. Điều 10 Hiến pháp 1946 ghi nhận: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Và theo Người tự do của mỗi người gắn liền với độc lập, tự do của Tổ quốc. Người nói: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã trở thành chân lý của thời đại.
Mục tiêu giải phóng con người, giải phóng nhân loại khỏi mọi sự bóc lột về kinh tế và nô dịch về tinh thần để Nhân dân lao động trở thành chủ nhân của xã hội mà Chủ  tịch Hồ Chí Minh suốt đời theo đuổi cũng chính là mục tiêu cao cả của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền duy nhất ở Việt Nam, có sứ mệnh và khả năng lãnh đạo Nhà nước thể hiện đầy đủ bản chất giai cấp, tính dân tộc và tính nhân dân, thật sự là chỗ dựa quan trọng để nhân dân thực hiện quyền làm chủ xã hội, đồng thời bảo đảm cho Nhân dân được thực hiện những quyền đó.
Vận dụng và tiếp thu tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, ngày nay, vấn đề quyền con người luôn được Đảng và Nhà nước đề cao, nhận thức tích cực và áp dụng phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Từ một dân tộc bị tước đoạt cả những quyền tự do cơ bản nhất, người dân Việt Nam cũng được hưởng ngày càng đầy đủ và toàn diện hơn các quyền của mình. Mặc dù hiện nay, trên thế giới còn nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề quyền con người và thậm chí một số thế lực thù địch đã lợi dụng vấn đề này để kích động, vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền tại Việt Nam song những thành tựu mà Đảng và Nhà nước ta đạt được trong những năm qua là minh chứng không thể phủ nhận cho những nỗ lực của Việt Nam trong lĩnh vực này.
Đề cập thành tựu về quyền con người của nước ta, trước hết cần nói tới cơ sở tư tưởng, chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong Cương lĩnh, đường lối của Đảng ta từ khi thành lập (03-02-1930) cho đến nay, luôn nhất quán xem quyền con người là một mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), một lần nữa khẳng định, xã hội xã hội chủ nghĩa mà Nhân dân ta xây dựng là một xã hội: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của Nhân dân. Đại hội XII của Đảng tiếp tục xác định quyền con người được đảm bảo trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội: “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được xác định đầy đủ hơn trong Hiến pháp năm 2013 và trong hệ thống pháp luật mới ban hành và sửa đổi. Khẳng định rõ các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm đối với xã hội” (1). 
Tinh thần của Văn kiện được thể hiện đầy đủ trong chương II, Hiến pháp năm 2013 - văn bản có giá trị pháp lý cao nhất của nước ta hiện nay quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là cơ sở pháp lý vững chắc đảm bảo các quyền con người được thực thi trong cuộc sống. Điều 14 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Điều 16 Hiến pháp 2013 ghi nhận về quyền bình đẳng trước pháp luật: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”, bên cạnh quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền sống là một trong những quyền cơ bản nhất của con người: “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật” (Điều 19). “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm” (Điều 20)… Điều này cho thấy công dân và mọi người được hưởng các quyền con người một cách mặc nhiên và Nhà nước có nghĩa vụ công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện các quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp và pháp luật. Các quyền Hiến định này được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật khác nhau có quy định liên quan trực tiếp đến quyền con người như Bộ Luật dân sự, Bộ Luật tố tụng dân sự. Bộ Luật hình sự, Bộ Luật tố tụng hình sự, Luật khiếu nại, Luật tố cáo, Luật bảo hiểm xã hội, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội,… 
Đặc biệt, hiện nay Việt Nam đã chủ động, tích cực tham gia các công ước quốc tế, các diễn đàn quốc tế về quyền con người trong phạm vi toàn cầu và khu vực, chẳng hạn công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt với phụ nữ, công ước về chống tra tấn, công ước về quyền trẻ em, công ước về quyền của người khuyết tật,… Có thể thấy rằng Hiến pháp năm 2013 cùng với hệ thống pháp luật hiện nay của Việt Nam không chỉ tương thích với các công ước quốc tế về quyền con người, mà còn được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia có hệ thống pháp luật tiến bộ hàng đầu trên thế giới.
Như vậy, có thể nói điều kiện pháp lý là một trong những điều kiện quan trọng cho công tác bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn coi việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật có ý nghĩa then chốt đối với việc bảo đảm và phát triển quyền con người trong giai đoạn hiện nay. 
Bên cạnh đó, Đảng, Nhà nước đã có nhiều cơ chế, chính sách bảo vệ và bảo đảm thực hiện tốt quyền con người, quyền công dân, theo phương hướng: “Coi trọng chăm lo hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người, bảo vệ và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế và quyền con người mà nước ta ký kết” (2).
Hiện nay, công tác bảo đảm và giải quyết vấn đề quyền con người cũng đã được thực hiện tốt hơn thông qua việc cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội để tạo ra những cơ hội thuận lợi giúp Việt Nam phát triển kinh tế nhanh và bền bững, qua đó, quyền con người không chỉ được bảo đảm ở cấp độ quốc gia mà còn ở cấp độ quốc tế. Cụ thể, để thực hiện tốt các nhóm quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng và thúc đẩy cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bởi lẽ, sự phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường đã mang đến sự đổi mới và phát triển nhanh chóng mọi mặt của đời sống xã hội, tôn vinh các giá trị lao động sáng tạo, thỏa mãn ngày càng cao các nhu cầu vật chất – tinh thần của Nhân dân góp phần đảm bảo một số quyền con người như quyền có việc làm, quyền có điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, quyền được nghĩ ngơi, giải trí, quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh,… 
Tuy nhiên, những mặt trái, tiêu cực từ nền kinh tế thị trường mang lại cũng là điều đáng lo ngại, ảnh hưởng trực tiếp đến vận hành cơ chế bảo đảm thực hiện và phát triển quyền con người. Bên cạnh đó, những phong tục, tập quán và định kiến mang tính địa phương, cục bộ vẫn còn nặng nề tạo nên những cách biệt nhất định về giới tính, vùng miền, về thu nhập, về vị thế xã hội, về tâm lý xã hội,… đặt ra những thách thức mới về quyền bình đẳng và công bằng xã hội. Tư tưởng trọng nam kinh nữ, nạn ngược đãi phụ nữ, bạo lực trong gia đình và tính gia trưởng vẫn còn tồn tại nhất là những nơi trình độ dân trí thấp. Những vấn nạn trên không chỉ ảnh hưởng đến từng người dân trong việc hưởng thụ các quyền đặc biệt là quyền sống và quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương mà còn là thách thức đối với các cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp và các tổ chức xã hội trong việc xây dựng và triển khai các chính sách nhằm cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người dân, bảo đảm thực hiện và phát triển quyền con người. Vì vậy, các cơ quan nhà nước cần tôn trọng và hỗ trợ các tổ chức xã hội, cá nhân trong hoạt động nghiên cứu, giáo dục và bảo vệ quyền con người. Mọi chủ thể của xã hội cũng như mọi chủ thể của các cơ quan nhà nước phải tổ chức và hoạt động vì quyền con người. Với cách tiếp cận dựa trên quyền con người thì quyền con người của người dân Việt Nam mới có cơ hội bảo vệ trên thực tế.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là Người đầu tiên đã tiếp cận một cách đầy đủ nhất, khoa học nhất và nhân văn nhất trong việc xây dựng, phát triển và bảo đảm thực hiện quyền con người ở Việt Nam. Thực hiện quyền con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành mục tiêu và động lực phát triển của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Hiện nay trên con đường hội nhập, phát triển, xã hội đang còn nhiều vấn đề kinh tế, xã hội cần phải nỗ lực giải quyết, để đảm bảo thực hiện tốt quyền con người theo tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh cần phát huy hơn nữa sức mạnh toàn dân tộc trên nền tảng bảo đảm và phát huy dân chủ thật sự, dân chủ đúng đắn, dân chủ gắn với kỷ cương trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật./. 
       ------------    
(1)    Văn kiện Đại hội đại biều toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.166
(2)    Văn kiện Đại hội đại biều toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.167
 

Số lượt xem: 171

ThS. Huỳnh Cầm – Giảng viên Khoa Nhà nước và pháp luật

Dịch vụ công Quốc gia Hệ thống văn bản của tỉnh CSDL hộ kinh doanh Thư điện tử công vụ Một cửa điện tử
© TRƯỜNG CHÍNH TRỊ CHÂU VĂN ĐẶNG TỈNH BẠC LIÊU
Địa chỉ: Số 7, Đường Nguyễn Tất Thành, phường 1, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu
Điện thoại: 0781. 3823965 Fax: 0781. 3829654