Liên kết web
Thăm dò
Thống kê truy cập

null Những sự kiện lịch sử thế giới tác động sự chuyển biến từ nhận thức đến tư tưởng Nguyễn Ái Quốc trong quá trình tìm đường cứu nước

Tin tức|Tin tức sự kiện|Tin tổng hợp
Thứ sáu, 17/06/2022, 08:55
Màu chữ Cỡ chữ
Những sự kiện lịch sử thế giới tác động sự chuyển biến từ nhận thức đến tư tưởng Nguyễn Ái Quốc trong quá trình tìm đường cứu nước

Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX các nước tư bản phương Tây chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Tiến hành xâm lược các nước lạc hậu, chậm phát triển ở châu Á, châu Phi, khu vực Mỹ Latinh biến những nước này trở thành thuộc địa, phụ thuộc trong đó Việt Nam.

Tháng 9/1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược và từng bước thôn tính Việt Nam. Triều đình nhà Nguyễn từng bước thỏa hiệp và đi đến đầu hàng hoàn toàn thực dân Pháp (thông qua các Điều ước 1862, 1874, 1883, 1884). Điều ước Patơnốp năm 1884, Việt Nam đã trở thành “một xứ thuộc địa, dân ta là vong quốc nô, Tổ quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác[1]. Tuy triều đình nhà Nguyễn đã hèn nhát đầu hàng thực dân Pháp, nhưng các phong trào yêu nước chống Pháp theo nhiều khuynh hướng khác nhau diễn ra sôi nổi, rộng khắp cả nước. Tiêu biểu là các phong trào Cần Vương, khởi nghĩa nông dân Yên Thế, cuộc vận động chống thuế Trung Kỳ, phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa thục, phong trào Đông Du,… do các sĩ phu yêu nước khởi xướng… các phong trào kể trên thể hiện tinh thần quật cường chống ngoại xâm, song tất cả đều lâm vào bế tắc và lần lượt bị thất bại. Đó là sự khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo.

Nguyễn Tất Thành  sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, lớn lên ở một địa phương có truyền thống anh dũng chống giặc ngoại xâm. Sống trong hoàn cảnh đất nước chìm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, thời niên thiếu của mình, Nguyễn Tất Thành đã chứng kiến nỗi khổ cực của đồng bào và những phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp, Nguyễn Tất Thành sớm có chí đuổi thực dân Pháp, giành độc lập cho đất nước, đem lại tự do, hạnh phúc cho đồng bào. Người rất khâm phục lòng yêu nước và đánh giá cao những cống hiến của các bậc tiền bối cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Người cũng đã nhận thấy những hạn chế và bế tắc của các bậc tiền bối đương thời nên khó đi đến thành công. Người quyết định đi tìm con đường cứu nước mới, khác với sự lựa chọn của các bậc tiền bối, Người đã chọn con đường cứu nước của mình là sang phương Tây, nhưng không phải đi tìm chỗ dựa, hoặc cầu viện các thế lực bên ngoài để cứu nước, mà là đi xem các nước làm như thế nào về giúp đồng bào mình. Đây không phải là hành động ngẫu nhiên, tự phát của Người, mà là sự lựa chọn, trăn trở; một quyết tâm lớn, nhằm đáp ứng đòi hỏi khách quan của cách mạng Việt Nam.

Ngày 5/6/1911, trên con tàu Amiran Latusơ Tơrêvin (Amiral Latouche Tréville) của hãng Năm sao, từ bến cảng Nhà Rồng (thành phố Sài Gòn), người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (bí danh Văn Ba) rời Tổ quốc bắt đầu cuộc hành trình lịch sử đi tìm đường cứu nước. Trong những năm bôn ba tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành đã đi nhiều nước trên thế giới để tìm hiểu, khảo sát, phân tích, đánh giá ý nghĩa các sự kiện lớn trên thế giới và rút ra kết luận là chủ nghĩa đế quốc, thực dân là cội nguồn của mọi đau khổ cho giai cấp công nhân và nhân dân ở các nước chính quốc cũng như thuộc địa. Người đã dành nhiều thời gian để nghiên cứu các cuộc cách mạng nổi tiếng trên thế giới: cách mạng Mỹ năm 1776 với bản “Tuyên ngôn Độc lập” và cách mạng tư sản Pháp năm 1789 cùng với bản “Tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền”. Người rất khâm phục tinh thần cách mạng ở nước Mỹ và Pháp, nhưng không đi theo con đường của họ được. Bởi vì, như Người đã đã khẳng định: “Kách mệnh Mỹ cũng như kách mệnh Pháp nghĩa là kách mệnh tư bản, kách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực thì nó tước đoạt công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa[2]. Bằng tư duy chính trị sắc sảo, tinh tường. Nguyễn Tất Thành đã kiên quyết không lựa chọn con đường cách mạng tư sản. Người cho rằng những cuộc cách mạng tư sản đều không đến nơi đến chốn vì không giải phóng được nhân dân lao động khỏi áp bức, bóc lột.

Năm 1917, một sự kiện làm rung chuyển thế giới, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử nhân loại đó là thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga, đã chứng minh học thuyết của Mác - Ănghen từ lý luận trở thành hiện thực, đưa cách mạng thế giới bước sang thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong lúc đang trăn trở tìm một con đường cứu nước cho dân tộc, Nguyễn Tất Thành đã tiếp nhận những thông tin đầu tiên về Cách mạng Tháng Mười Nga… Từ chỗ chưa biết V.I.Lênin là ai, dần dần Người nhận ra rằng, Cách mạng Tháng Mười Nga đã giúp một dân tộc lật đổ bọn áp bức bóc lột mình, tự tổ chức quản lý mọi công việc đất nước, không cần bọn chủ và bọn toàn quyền. Người từng viết: “Lúc bấy giờ tôi ủng hộ Cách mạng Tháng Mười chỉ là theo cảm tính tự nhiên. Tôi chưa hiểu hết tầm quan trọng lịch sử của nó. Tôi kính yêu V.I.Lênin vì V.I.Lênin là một người yêu nước vĩ đại đã giải phóng đồng bào mình, trước đó tôi chưa hề đọc một quyển sách nào của V.I.Lênin viết[3].

Ngày 18/6/1919, Nguyễn Tất Thành thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước đang hoạt động ở Pháp, gửi đến Hội nghị Versailles bản “Yêu sách của nhân dân An Nam”, gồm tám điểm để được xem xét giải quyết quyền lợi của quốc gia dân tộc và được viết bằng tiếng Pháp, ký tên Nguyễn Ái Quốc. Đây là lần đầu tiên cái tên Nguyễn Ái Quốc xuất hiện. Bản yêu sách của nhân dân An Nam không được Chính phủ Pháp, cũng như các nước trong Hội nghị Versailles quan tâm, để ý đến. Từ đó, Nguyễn Ái Quốc đã hiểu rõ bộ mặt thật của chủ nghĩa đế quốc, và Người nhận thấy muốn được giải phóng các dân tộc thuộc địa không có con đường nào khác ngoài con đường đấu tranh và các dân tộc chỉ có thể dựa vào lực lượng của bản thân mình, vào chính thực lực của bản nhân dân mình.

Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin đăng trên báo Nhân đạo (L’Humanité). Tác phẩm này đã đưa đến cho Nguyễn Ái Quốc những nhận thức mới về con đường giải phóng dân tộc ở thuộc địa. Nguyễn Ái Quốc nhận thức sâu sắc rằng, chủ nghĩa thực dân không chỉ là kẻ thù trực tiếp, nguy hại nhất của các thuộc địa mà còn là kẻ thù chung của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới. Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa có mối quan hệ khăng khít với cách mạng vô sản ở chính quốc. Theo Người: “Cuộc đấu tranh cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa lại trực tiếp giúp đỡ giai cấp vô sản các nước tư bản trong cuộc đấu tranh chống các giai cấp thống trị để tự giải phóng khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa tư bản.[4]. Đó là cơ sở để cách mạng vô sản ở các nước thuộc địa có tính độc lập, chủ động không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc, nó có thể nổ ra và thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc, góp phần thúc đẩy cách mạng chính quốc giành thắng lợi.

Như vậy, Luận cương của V.I.Lênin đã tác động mạnh mẽ và tạo sự chuyển biến trong tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, Người đã khẳng định con đường này chẳng những giải phóng hoàn toàn dân tộc Việt Nam khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa đế quốc, mà còn giải phóng nhân dân Việt Nam khỏi mọi sự áp bức bóc lột, đi đến ấm no, hạnh phúc thực sự. Sự lựa chọn này của Người là sự kiện mang tính chất bước ngoặt vừa đáp ứng yêu cầu phát triển của dân tộc Việt Nam, vừa phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của thời đại.

Tháng 12/1920, tại Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp diễn ra ở Tua, với tư cách là đảng viên Đảng Xã hội Pháp, sự kiện Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu gia nhập Quốc tế III - Quốc tế Cộng sản, tán thành chủ trương thành lập Đảng Cộng sản pháp, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, là người cộng sản đầu tiên của Việt Nam, đánh dấu bước chuyển biến quyết định trong tư tưởng và lập trường chính trị của Nguyễn Ái Quốc, từ lập trường người yêu nước chân chính chuyển sang lập trường người cộng sản. Sự kiện đó cũng mở ra cho cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam một giai đoạn phát triển mới – giai đoạn “gắn phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt Nam đi theo con đường mà chính Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác-Lênin[5].

Sự lựa chọn và hành động của Nguyễn Ái Quốc phù hợp với trào lưu phát triển của lịch sử, chuyển từ chủ nghĩa yêu nước sang chủ nghĩa cộng sản, đã kéo theo cả một lớp người Việt Nam yêu nước chân chính đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ đó chủ nghĩa Mác-Lênin bắt đầu thâm nhập vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Từ đây, lịch sử cách mạng Việt Nam đã chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối. Điều này có ý nghĩa thực tiễn to lớn giúp cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam không thụ động, ỷ lại chờ sự giúp đỡ từ bên ngoài mà luôn phát huy tính độc lập tự chủ, tự lực, tự cường nhờ đó mà cách mạng Việt Nam giành thắng lợi vĩ đại. Thắng lợi công cuộc giải phóng dân tộc ở Việt Nam đã mở đầu cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân trên phạm vi thế giới./.


[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2002, t.10, tr.3

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2000, tập 2, tr.268

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 561

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.576

[5] Lê Duẩn: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tư do tiến lên chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb.Sự thật, H.1970, tr.10

Số lượt xem: 30

ThS Nguyễn Minh Mẫn - Khoa Xây dựng Đảng

Tin đã đưa
Dịch vụ công Quốc gia Hệ thống văn bản của tỉnh CSDL hộ kinh doanh Thư điện tử công vụ Một cửa điện tử
© TRƯỜNG CHÍNH TRỊ CHÂU VĂN ĐẶNG TỈNH BẠC LIÊU
Địa chỉ: Số 7, Đường Nguyễn Tất Thành, phường 1, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu
Điện thoại: 0781. 3823965 Fax: 0781. 3829654