Liên kết web
Thăm dò
Thống kê truy cập

null Kinh nghiệm trong giảng dạy phần triết học Mác – Lênin ở Trường Chính trị Châu Văn Đặng tỉnh Bạc Liêu

Tin tức|Tin tức sự kiện|Tin tổng hợp
Thứ bảy, 07/11/2020, 15:28
Màu chữ Cỡ chữ
Kinh nghiệm trong giảng dạy phần triết học Mác – Lênin ở Trường Chính trị Châu Văn Đặng tỉnh Bạc Liêu

Triết học là môn học khá trừu tượng vì mang tính khái quát cao nên giảng dạy Triết học để cho hấp dẫn là vấn đề không phải dễ. Qua nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy phần Triết học ở Trường Chính trị Châu Văn Đặng tỉnh Bạc Liêu, theo tôi, để có bài giảng Triết học hấp dẫn, cuốn hút, cần phải lưu ý một số vấn đề sau:

Thứ nhất, người giảng viên phải thể hiện được phong cách trong quá trình lên lớp

Dù là bài giảng Triết học hay môn học nào, khi bắt đầu thực hiện bài giảng, giảng viên cần có những hoạt động để tạo không khí cởi mở, gần gũi với người học, xóa đi những e ngại, bỡ ngỡ ban đầu, tạo sự chú ý và không khí học tập tích cực. Điều này rất cần thiết vì mọi sự khởi đầu tốt đẹp sẽ tạo ra môi trường học tập thuận lợi cho người học tiếp thu bài giảng.

Triết học là môn học mang tính trừu tượng cao nên giảng viên cần chú ý sử dụng ngôn ngữ chính xác, dễ hiểu nhưng như thế không có nghĩa là giảng viên đơn giản hóa những nguyên lý, quy luật bằng ngôn ngữ dân dã. Như vậy là đã tầm thường hóa nguyên lý, quy luật, gây nên hiểu lầm hoặc hiểu sai về nội dung. Giảng viên cũng không thể dùng ngôn ngữ cao siêu, bác học quá mức làm cho người học không hiểu giảng viên đang nói gì. Giảng viên nói quá to, quá nhỏ, giọng đều đều hoặc nói những từ cuối của câu không rõ đều làm cho bài giảng kém hấp dẫn đối với người học…

Giảng viên phải thể hiện thái độ vui vẻ. Thái độ đó được thể hiện qua nụ cười, ánh mắt biểu hiện sự chân tình, cởi mở, gần gũi nhưng nghiêm túc. Điều đó tạo nên sự hòa hợp, gần gủi giữa người dạy và người học và bài giảng sẽ cuốn hút hơn đối với người học. Ngoài ra, giảng viên phải chú ý đến cử chỉ, giọng nói, trang phục… Những điều đó tưởng chừng như rất nhỏ nhưng thực ra lại có tác động không nhỏ đối với người học.

Thứ hai, tạo được tình huống có vấn đề

Tình huống có vấn đề sẽ tạo ra không khí học tập sôi nổi. Cái khó là ở việc giảng viên phải tìm ra tình huống có vấn đề đối với mỗi nội dung bài giảng, từ đó động viên người học giải quyết dưới sự hướng dẫn của giảng viên. Giảng viên có thể tạo ra tình huống có vấn đề bằng cách đi vào từng ngóc ngách của vấn đề hoặc tạo ra mâu thuẫn của vấn đề.

Ví dụ: khi giảng xong nội dung về vật chất, giảng viên xác định cái bàn học viên đang ngồi là một dạng của vật chất; lúc này giảng viên đặt câu hỏi phương thức tồn tại của vật chất là gì (vận động)?. Giảng viên hỏi tiếp vậy cái bàn các đồng chí đang ngồi có vận động không. Chắc chắn lúc này có một số học viên nói có và một số nói không hoặc không biết. Sau đó giảng viên kết luận cái bàn học viên đang ngồi học mặc dù nó đang đứng im nhưng thật ra nó đang vận động và từ đây giảng viên lưu ý thêm với học viên là trong Triết học có đề cặp đến một hình thức vận động nữa đó là “vận động trong đứng im” (tức đứng im nhưng đang vận động).

Ví dụ: khi giảng khái niệm mâu thuẫn, cần nêu vấn đề mâu thuẫn trong đời thường và mâu thuẫn trong Triết học khác nhau như thế nào? Tại sao mâu thuẫn trong đời thường lại có nghĩa xấu, mâu thuẫn trong Triết học lại có nghĩa tốt?...

Thứ ba, đặt câu hỏi chuyển tiếp giữa các nội dung

Khi chuyển tiếp từ nội dung này sang nội dung khác, từ bài giảng này sang bài giảng khác phải tìm được những câu hỏi để chuyển tiếp. Những câu hỏi này phải đáp ứng được các yêu cầu:

Một là, bảo đảm được tính lôgic, làm cho người học thấy được tính tất yếu phải có nội dung tiếp theo.

Hai là, gây được tính tò mò muốn tìm hiểu của người học.

Ví dụ: khi giảng xong nội dung “Sản xuất vật chất – nền tảng của xã hội”. Giảng viên tóm ý lại bằng cách: trong sản xuất vật chất con người thực hiện nhiều mối quan hệ nhưng trong đó có hai mối quan hệ cơ bản đó là:

Mối quan hệ giữa người với người và mối quan hệ này biểu hiện về mặt xã hội gọi là quan hệ sản xuất.

Mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và mối quan hệ này biểu hiện về mặt xã hội gọi là lực lượng sản xuất.

Đến đây ta chuyển ý đi vào nội dung tiếp theo đó là tìm hiểu: mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.

Thứ tư, giải thích từ ngữ (Hán - Việt)

Trong Triết học sử dụng rất nhiều từ Hán - Việt. Nếu giảng viên không giải thích thì người học rất khó hiểu. Vì thế, giảng viên phải có vốn hiểu biết về từ Hán - Việt để giải thích cho người học.

Ví dụ: tất yếu, tất nhiên, ngẫu nhiên

Tất: nhất định; nhiên: là như thế; ngẫu: là tình cờ. Từ đó, có thể giải thích: Tất nhiên: Nhất định là như thế; Tất yếu: nhất định phải như thế: Ngẫu nhiên: tình cờ là như thế…

Hay giải thích các quan điểm thế nào gọi là biện chứng? Thế nào gọi là siêu hình? Thế nào gọi là chủ quan? Thế nào gọi là khách quan?...

Thứ năm, cần chú ý đến sử dụng tri thức kinh điển

Không riêng về phần Triết học mà cả phần Kinh tế chính trị học và Chủ nghĩa xã hội khoa học ở một số nội dung cũng nên sử dụng kinh điển. Bởi kinh điển là gốc, là tinh thần nguyên thủy của chủ nghĩa Mác - Lênin. Khi cần nhấn mạnh một vấn đề, một nội dung trong bài giảng việc sử dụng hợp lý kinh điển, trích dẫn “đúng”, “trúng”, sẽ đem lại kết quả lớn, nâng cao chất lượng giảng dạy, đem lại sự hấp dẫn và cả niềm tin cho người học. Tuy nhiên, nếu quá lạm dụng, trích dẫn quá nhiều theo kiểu “tầm chương trích cú” hoặc sử dụng quá ít tri thức kinh điển trong giảng dạy - cả hai khuynh hướng này đều cần khắc phục.

Ví dụ: khi giảng nội dung lực lượng sản xuất trong phần “Lý luận hình thái kinh tế - xã hội”. Khi phân tích, chứng minh sự khác biệt giữa xã hội loài người với xã hội loài vật có thể trích câu của Ph.Ăngghen như: “Điểm khác biệt căn bản giữa xã hội loài người với xã hội loài vật là ở chỗ: loài vật may mắn chỉ hái lượm trong khi con người lại sản xuất”.

Thứ sáu, đảm bảo tính chính xác, lôgíc khi trình bày các khái niệm, phạm trù, nguyên lý, qui luật

Đây là điều rất cần thiết nhưng nếu chỉ dừng lại ở giới hạn đó dễ làm cho bài giảng trở nên khô khan, nặng nề. Giảng dạy không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật, nghệ thuật thu hút, tác động tới đời sống, cảm xúc, tình cảm của người học. Giảng viên trong quá trình giảng dạy cùng với việc gợi mở sự tìm tòi sáng tạo, phát triển trí tuệ còn phải gây hứng thú ở người học, để họ có thể cảm thụ cái hay, cái đẹp của tri thức Triết học. Vì thế quá trình truyền thụ tri thức phải giàu hiện tượng cảm xúc thì mới có sức thuyết phục cao. Triết học là một môn khoa học trừu tượng mang tính khái quát cao, đòi hỏi phải có một phương pháp giảng dạy thích hợp để đưa tri thức đến cho người học. Thực tế cho thấy, chất lượng của việc giảng dạy nói chung và giảng dạy Triết học nói riêng không chỉ phụ thuộc vào trình độ khoa học, kiến thức chuyên môn của giảng viên mà còn phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp giảng dạy. Hiện nay đang nói nhiều về đổi mới phương pháp giảng dạy nhưng cần phải xác định, đổi mới không có nghĩa là loại bỏ, phủ nhận hoàn toàn phương pháp truyền thống. Ở đây cần có sự đánh giá khách quan và chính xác về các phương pháp giảng dạy truyền thống để từ đó phát huy yếu tố đúng đắn hợp lý đồng thời loại bỏ những yếu tố không phù hợp, bổ sung những yếu tố mới làm cho phương pháp giảng dạy hiệu quả hơn. Cần tránh sự phân biệt máy móc giữa phương pháp truyền thống và phương pháp hiện đại, phương pháp cũ và phương pháp mới. Tất cả các phương pháp đó đều có mặt mạnh, mặt yếu nhất định, phải được nghiên cứu, vận dụng có hiệu quả.

Thứ bảy, giảng viên phải có vốn kiến thức rộng, am hiểu nhiều lĩnh vực, nhất là lĩnh vực khoa học tự nhiên

Giảng viên giảng dạy Triết học ngoài việc nắm vững kiến thức chuyên môn là Triết học còn phải nắm và am hiểu nhiều lĩnh vực khác như: kiến thức về Kinh tế chính trị học; về Chủ nghĩa xã hội khoa học; đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; về kinh tế, chính tri, văn hóa, xã hội, an ninh - quốc phòng, đặc biệt là kiến thức về lĩnh vực khoa học tự nhiên.

Khi có lượng kiến thức phong phú cùng với việc sử dụng linh hoạt các phương pháp trong giảng dạy thì người giảng mới có thể biến những kiến thức mang tính trừu tượng, có tính khái quát cao, thậm chí khó hiểu trở thành đơn giản, dễ hiểu.

Ví dụ: khi giảng xong nội dung vật chất, giảng viên có thể hệ thống lại vấn đề để học viên dễ nắm như sau: để xác định là một dạng vật chất thì phải có những dấu hiệu gì? (thứ nhất nó phải tồn tại thực, thứ hai con người phải nhận biết được nó thông qua các giác quan). Phương thức tồn tại của vật chất là gì? (là vận động). Theo Ph.Ăngghen vận động có mấy hình thức cơ bản? (có 05 hình thức cơ bản: vận động cơ, lý, hóa, sinh và vận động xã hội). Vật chất vận động ở đâu? (trong không gian và thời gian)…

Ví dụ: khi giảng phần “Lý luận hình thái kinh tế - xã hội”. Khi kết thúc nội dung này giảng viên nên sơ đồ hóa lại hình thái kinh tế xã hội để người học nắm được hình thái kinh tế xã hội là thế nào.

Ví dụ: khi giảng quy luật lượng, chất: phần ý nghĩa phương pháp luận, để minh họa cho nội dung. Sự vật muốn thay đổi trước hết phải thay đổi về lượng và tích lũy về lượng trước. Lúc này ta dùng những câu tục ngữ, ca dao Việt Nam để minh họa như: “năng nhặt chặt bị”; “có công mài sắt có ngày nên kim”; “Đi một ngày đàng học một tràng khôn”; “Kiến tha lâu cũng đầy tổ”…

Do yêu cầu nhận thức của người học ngày càng cao, cùng với tốc độ phát triển của khoa học, công nghệ nhanh như vũ bão, đòi hỏi người giảng viên phải thường xuyên cập nhật những chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Nắm bắt được các thông tin đổi mới kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, những biến động của tình hình quốc tế,... đặc biệt là kiến thức về lĩnh vực khoa học tự nhiên.

Ví dụ: khi giảng xong nội dung vận động trong đứng im (tức đứng im nhưng vẫn vận động). Giảng viên đặt câu hỏi, vậy cái bàn các đồng chí đang ngồi nó đang đứng im hay vận động? Chắc chắn học viện trả lời cái bàn đang ngồi nó đang vận động. Giảng viên hỏi tiếp, vậy theo 05 hình thức vận động cơ bản mà Ph.Ăngghen nêu ra, cái bàn nó vận động theo hình thức nào. Lúc này cả người dạy và người học phải dùng kiến thức của khoa học tự nhiên để giải thích.

Ví dụ: khi giảng định nghĩa vật chất của V.I.Lênin, ngoài những dẫn chứng về các dạng vật chất của các nhà triết học trước đây đã nêu cũng nên cập nhật thêm những thông tin về những dạng vật chất mới như: mới đây các chuyên gia thuộc Đại học California đã phát triển thành công một dạng vật chất có tên "tinh thể thời gian" - theo Norman Yao - thành viên của nhóm nghiên cứu cho rằng: "Đây là một dạng vật chất mới, và nó thực sự tuyệt vời vì lần đầu tiên chúng ta được trông thấy một ví dụ điển hình về vật chất cân bằng. Trong những năm gần đây, ta đã nghiên cứu quá nhiều các dạng vật chất cân bằng, như kim loại và chất cách điện. Đây là lúc chúng ta xét đến các dạng vật chất không ổn định rồi" - (Nguồn: tri thức trẻ 5/2/2017). Từ đây giảng viên phân tích thêm cho người học rõ, phát hiện này có thể tạo ra một bước đột phá, cho phép con người hiểu hơn về thế giới xung quanh, cũng như phát triển thêm về công nghệ chế tạo máy tính khoa học lượng tử. Nghiên cứu này càng khẳng định điều C.Mác từng nói, không có gì ở gần con người mà lại xa lạ với con người, điều đó càng thôi thúc, khát vọng của con người là luôn khám phá, chinh phục và cải tạo thế giới.

Tóm lại, có thể nói giảng dạy môn học nào cũng có cái khó và cái dễ của nó. Vấn đề không phải là giảng môn nào mà là giảng như thế nào. Nếu có kiến thức sâu rộng và biết cách giảng thì môn học khó cũng thành dễ, trừu tượng cũng thành cụ thể, khô khan cũng trở thành hấp dẫn./.

Số lượt xem: 48

ThS Võ Minh Khang – Trưởng khoa Lý luận cơ sở

Tin đã đưa
Dịch vụ công Quốc gia Hệ thống văn bản của tỉnh CSDL hộ kinh doanh Thư điện tử công vụ Một cửa điện tử
© TRƯỜNG CHÍNH TRỊ CHÂU VĂN ĐẶNG TỈNH BẠC LIÊU
Địa chỉ: Số 7, Đường Nguyễn Tất Thành, phường 1, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu
Điện thoại: 0781. 3823965 Fax: 0781. 3829654