Xây dựng môi trường văn hóa ở Trường Chính trị Châu Văn Đặng tỉnh Bạc Liêu hướng tới trường chính trị chuẩn Hội nghị sơ kết việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” Những kết quả đạt được trong xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở của tỉnh Bạc Liêu Một số kinh nghiệm tổ chức thi vấn đáp phần I.1: “Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin” ở Trường Chính trị Châu Văn Đặng tỉnh Bạc Liêu Một số vấn đề cần lưu ý trong giảng dạy lý luận chính trị nhằm đáp ứng yêu cầu của việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay Nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên đề ở Chi bộ Khoa Xây dựng Đảng, Trường Chính trị Châu Văn Đặng Những thành tựu đạt được trong xây dựng nông thôn mới; nông thôn mới nâng cao, kiểu mẫu ở tỉnh Bạc Liêu trong thời gian qua Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Trường Chính trị Châu Văn Đặng tỉnh Bạc Liêu Kinh nghiệm trong giảng dạy phần học “Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin” ở Trường Chính trị Châu Văn Đặng tỉnh Bạc Liêu Xây dựng Đoàn thực sự vững mạnh, xứng đáng là đội dự bị tin cậy của Đảng trong giai đoạn hiện nay.
Liên kết web
Thăm dò
Thống kê truy cập

null Chủ nghĩa Mác bàn về vị trí, vai trò của người phụ nữ trong sự phát triển các hình thức hôn nhân và gia đình trong lịch sử

Tin tức|Tin tức sự kiện|Tin tổng hợp
Thứ tư, 27/01/2021, 07:54
Màu chữ Cỡ chữ
Chủ nghĩa Mác bàn về vị trí, vai trò của người phụ nữ trong sự phát triển các hình thức hôn nhân và gia đình trong lịch sử

Loài người đã từng vạch đôi xã hội, một nửa là đàn ông còn nửa kia là đàn bà, trong đó đàn bà từng bị hạn chế hoặc bị loại trừ khỏi một số quyền của con người. Một trong những quan điểm phi lý nhất đã từng ngự trị trong lịch sử xã hội loài người là: đàn bà là nô lệ của đàn ông, đó là điều tự nhiên vì phụ nữ có giá trị thấp hơn đàn ông. Điều này đã bị các nhà triết học khai sáng như: Điđrô, J.Rutxô,… phê phán. Theo các ông chính sự độc đoán của giai cấp phong kiến, những sự bất bình đẳng, những tệ nạn xã hội đã xô đẩy người phụ nữ vào vị trí lệ thuộc và thấp hèn trong gia đình và ngoài xã hội. Sự thay đổi địa vị của người phụ nữ theo các ông là cần thiết và có thể thực hiện được bởi những cải biến xã hội. Thế kỉ XIX ở Pháp, Phuriê – nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng phê phán – đã tiến một bước về mặt lý luận khi cho rằng: làm ô nhục phụ nữ là nét căn bản của thời đại văn minh cũng như thời đại dã man, rằng: giải phóng phụ nữ là thước đo trình độ giải phóng xã hội.
    Tuy xuất phát từ những hoàn cảnh khác nhau nhưng ở các nhà tư tưởng tiến bộ có chung một điểm đó là lòng nhân đạo cao cả đã hướng tới số phận đau thương của một nửa nhân loại đó là phụ nữ. Ngoài sự áp bức, bóc lột về giai cấp, dân tộc, phụ nữ còn bị áp bức về giới, họ luôn bị phân biệt đối xử trong gia đình và ngoài xã hội.
    Do kết quả của sự phát triển của lực lượng sản xuất; bằng thiên tài trí tuệ của mình C.Mác và Ph.Ăngghen đã thực hiện một cuộc cách mạng trong lý luận về vấn đề hôn nhân và gia đình. Để bác bỏ quan điểm cho rằng từ khi có xã hội loài người đàn bà đã là nô lệ của đàn ông, Ph.Ăngghen đã trở lại với lịch sử để phân tích các cơ sở kinh tế - xã hội dẫn tới sự áp bức của đàn ông với đàn bà. Căn cứ vào các cứ liệu lịch sử, Ph.Ăngghen đã nghiên cứu những nét cơ bản của sự phát triển xã hội, sự phát triển của các hình thức hôn nhân và gia đình trên cơ sở của tiến bộ kinh tế - xã hội, qua đó đã chỉ ra vai trò của người phụ nữ qua các hình thức hôn nhân. Ph.Ăngghen dựa vào tài liệu của Mocgan – cuốn “Mẫu quyền” để phác thảo ra các bước phát triển của nhân loại qua các thời đại: mông muội, dã man và các bước đầu của thời đại văn minh. Đến nay loài người đã trải qua 4 hình thức gia đình cơ bản: gia đình huyết tộc, gia đình Punaluan, gia đình cặp đôi, gia đình một vợ một chồng. Trong 4 hình thức gia đình đó Ph.Ăngghen đã khái quát sự biến đổi địa vị của người phụ nữ qua hai thời kỳ lịch sử lớn với hai chế độ xã hội – đó là chế độ mẫu quyền và chế độ phụ quyền.
    Ở thời kỳ thứ nhất (chế độ mẫu quyền): theo Ph.Ăngghen, thời kỳ đó quan hệ tình dục hỗn tạp và hình thành trong nội bộ bộ lạc, khiến cho mọi người đàn bà đều thuộc về người đàn ông, cũng như mọi người đàn ông đều thuộc về người đàn bà. Từ đó chắc chắn và làm nảy sinh và phát triển sớm hai hình thức gia đình đó là gia đình huyết tộc và gia đình Punaluan. Do trình độ lực lượng sản xuất còn thấp kém, cuộc sống cộng đồng nguyên thủy đã tạo nên một hình thức gia đình theo chế độ quần hôn. Trong thời kỳ này, người ta không biết chắc chắn ai là cha đích thực của một đứa trẻ, nhưng người ta biết rõ ai là mẹ nó. Do vậy, “rõ ràng chừng nào chế độ quần hôn còn tồn tại thì dòng dõi chỉ có thể xác định được về bên mẹ mà thôi, và vì vậy chỉ có nữ hệ là được thừa nhận” (1).
    Mặc dù chế độ mẫu quyền đã tồn tại hàng vạn năm trong lịch sử nhân loại, địa vị của người phụ nữ được đề cao nhưng không có sự bất bình đẳng giữa nam và nữ. Chính người phụ nữ có trách nhiệm rất cao trong việc chăm lo cuộc sống cộng đồng, ít có sự đòi hỏi cho bản thân. Chế độ mẫu quyền tồn tại suốt thời đại mông muội đến giai đoạn thấp của thời đại dã man, nó được chuyển sang thời đại mới nhờ vào sự tiến bộ vượt bậc của lực lượng sản xuất. Ph.Ăngghen đánh giá: sự thay thế chế độ mẫu quyền bằng chế độ phụ quyền là một trong những cuộc cách mạng triệt để nhất mà nhân loại đã trải qua.
    Thời kỳ thứ hai (chế độ phụ quyền): sản xuất ngày càng phát triển, của cải tăng lên nhanh chóng và của cải ấy đều thuộc của riêng từng gia đình. Vai trò của người đàn ông ngày càng quan trọng bởi hầu hết tài sản trong gia đình lúc này do họ làm ra như: lương thực, gia súc, nô lệ,… số tài sản càng lớn và có ý nghĩa quyết định trong gia đình. Khi đàn ông nắm được địa vị kinh tế trong gia đình, tất yếu họ sẽ lợi dụng địa vị ngày càng quan trọng của mình để đánh đổ chế độ huyết tộc theo mẹ bằng huyết tộc theo cha và xác lập quyền thừa kế tài sản theo cha. Ph.Ăngghen nhận xét: Sự thay thế chế độ mẫu quyền bằng chế độ phụ quyền đã diễn ra hoàn toàn không có gì khó khăn mà thật “nhẹ nhàng”, bởi nó không hề thông qua một cuộc chiến tranh nào.
    Như vậy, qua những dữ liệu nêu trên đã cho thấy rõ một điều rằng, người phụ nữ có công rất lớn trong việc tạo ra bước chuyển từ chế độ quần hôn sang chế độ hôn nhân cặp đôi và quan hệ hôn nhân đặc trưng của gia đình này là một vợ một chồng, trong đó quyền lực thuộc người đàn ông. Thế là người phụ nữ không được đền đáp lại một cách tương xứng với công lao của mình, ngược lại địa vị của họ có được thời kỳ mẫu hệ vĩnh viễn mất đi khi chuyển sang thời kỳ phụ hệ. Gia đình một vợ một chồng khác với gia đình cặp đôi ở chỗ: quan hệ vợ chồng chặt chẽ hơn, hai bên không thể tùy ý ly dị nhau được nữa, có chăng điều này chỉ xảy ra đối với người chồng và quyền “thống trị” vẫn thuộc về người chồng. Trong gia đình ngoài việc sinh đẻ người vợ chỉ là “một người đầy tớ chính”. Người chồng tiếp tục củng cố vị trí đã đạt được sau thắng lợi của chế độ “phụ quyền” đối với chế độ “mẫu quyền”. Ở giai đoạn này chỉ người chồng mới có quyền bỏ vợ, chỉ người chồng mới có quyền ngoại tình và xã hội đảm bảo cho người đàn ông được quyền lực đó, luật pháp đã tạo điều kiện cho đàn ông thả sức sử dụng những “xa xỉ phẩm của lịch sử” (2) miễn là người đó không dắt tình nhân về nhà mình. Xã hội càng phát triển thì quyền đó càng rộng rãi hơn nhưng nếu người vợ vi phạm các “tội danh” trên thì sẽ bị trừng trị nghiêm khắc hơn bất cứ thời đại nào trước kia.
    Như vậy, sự bất bình đẳng giữa đàn ông và đàn bà trong gia đình nói riêng và trong xã hội nói chung có nguồn gốc sâu xa trong lịch sử xã hội loài người, nó không chỉ xuất hiện từ khi chế độ mẫu quyền chuyển sang chế độ phụ quyền mà trước đó, tức thời kỳ mẫu quyền đã có và tồn tại cho đến ngày nay. Trước đây tề gia nội trợ là một chức vụ xã hội cần thiết do phụ nữ đảm nhiệm, cũng ngang như việc nam giới cung cấp lương thực. Đến nay trong gia đình cá thể, tề gia nội trợ đã mất đi tính xã hội và trở thành một việc phục vụ cho riêng gia đình, người đàn bà trở thành người đầy tớ chủ chốt và bị gạt ra khỏi sản xuất xã hội. Từ địa vị kinh tế thấp kém, người đàn bà bị đẩy xuống loại người thấp hèn, bị lệ thuộc, bị trói buộc, bị đối xử bất công, họ hoàn toàn mất chủ động trong hôn nhân và gia đình. Trong gia đình cá thể của xã hội tư sản, người phụ nữ bị bức ra khỏi nền sản xuất xã hội, do đó họ không có nguồn thu nhập nào cả. Nếu như, người phụ nữ muốn tham gia vào lao động xã hội và kiếm sống một cách độc lập thì họ không có điều kiện để làm tròn nhiệm vụ gia đình. Vì vậy, khi đã có gia đình, công việc duy nhất của người phụ nữ là “tề gia nội trợ” và thực hiện chức năng sinh đẻ, còn người đàn ông phải kiếm tiền để nuôi dưỡng gia đình “điều này mang lại cho người đàn ông một địa vị thống trị không cần một đặc quyền pháp luật nào trong gia đình, người chồng là nhà tư sản, người vợ là đại biểu cho giai cấp vô sản” (3) .
    Như vậy, nghiên cứu sự tiến triển dần của các hình thức gia đình cùng với sự phát triển của lịch sử kinh tế - xã hội, chúng ta nhận thấy vai trò và công lao to lớn của người phụ nữ trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội loài người nói chung cũng như lịch sử phát triển của các hình thức gia đình nói riêng. Đồng thời cũng minh chứng một điều rằng: phụ nữ không phải là nô lệ của đàn ông khi xuất hiện xã hội loài người bởi họ đã có một vị trí rất to lớn trong gia đình và xã hội trước khi chế độ phụ quyền ra đời. Chế độ phụ quyền đã hạ bệ vai trò quan trọng của người phụ nữ, đẩy họ vào vị trí thấp hèn trong gia đình và ngoài xã hội. Vì thế việc cải thiện vị trí của người phụ nữ trong gia đình và xã hội là cần thiết, cần có những cuộc cách mạng triệt để làm triệt tiêu tận gốc rễ những tập quán đối xử bất bình đẳng của nam giới đối với nữ giới trong hôn nhân và gia đình./.
---------
(1) C.Mác - Ph.Ăngghen Toàn tập, t.21, tr. 73.
(2) C.Mác - Ph.Ăngghen Toàn tập, t.21, tr.98.
(3) C.Mác - Ph.Ăngghen Toàn tập, t.21, tr.116.

Số lượt xem: 155

ThS. Lê Cẩm Lệ - Phó Trưởng Khoa Xây dựng Đảng.

Dịch vụ công Quốc gia Hệ thống văn bản của tỉnh CSDL hộ kinh doanh Thư điện tử công vụ Một cửa điện tử
© TRƯỜNG CHÍNH TRỊ CHÂU VĂN ĐẶNG TỈNH BẠC LIÊU
Địa chỉ: Số 7, Đường Nguyễn Tất Thành, phường 1, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu
Điện thoại: 0781. 3823965 Fax: 0781. 3829654