SỐ LƯỢT TRUY CẬP

0
9
7
0
9
0
6
Tin tổng hợp Thứ Sáu, 14/07/2017, 14:15

Kỷ niệm Ngày thương binh, liệt sỹ 27/7

Thực hiên quan điểm Hồ Chí Minh đối với gia đình thương binh, liệt sỹ và người có công với nước

"Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây" là truyền thống đạo lý quý báu của dân tộc Việt Nam ta. Đây cũng là một trong những nguồn gốc hình thành tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, là tình cảm, tư tưởng của Người đối với thương binh, liệt sỹ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định công lao to lớn của các thương binh, liệt sỹ và người có công với đất nước. Năm 1946, khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới thành lập, với bao công việc bộn bề nhưng Người đã gửi thư tới đồng bào Nam bộ, trong thư có đoạn viết: Tôi kính cẩn cúi chào vong linh các anh chị em đã bỏ thân vì nước và các đồng bào đã hy sinh trong cuộc đấu tranh cho nước nhà. Sự hy sinh đó không phải là uổng. Trong Thư gửi đồng bào Việt Nam, Người viết: Tôi nghiêng mình trước anh hồn những chiến sỹ và đồng bào Việt Nam đã vì Tổ quốc mà hy sinh anh dũng. Ngày 16-02-1947, trên cương vị Chủ tịch nước, Người ký Sắc lệnh số 20/SL ban hành chế độ hưu bổng thương tật và tiền tử tuất. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên đặt nền tảng cho chính sách thương binh, liệt sỹ của nước ta.

Tháng 6-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị chọn một ngày trong năm làm “Ngày thương binh” để nhân dân ta có dịp tỏ lòng hiếu nghĩa, yêu mến thương binh, gia đình liệt sỹ và những người có công với đất nước. Thực hiện chỉ thị của Người, Hội nghị trù bị gồm đại biểu các cơ quan, các ngành ở Trung ương, khối và tỉnh họp ở xã Phú Minh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên bàn bạc, nhất trí, đề nghị lấy ngày 27-7-1947 làm “Ngày thương binh, liệt sỹ” trong cả nước. Từ đó, ngày 27-7 hằng năm trở thành Ngày thương binh, liệt sỹ.

Sinh thời, Hồ Chí Minh có nhiều sáng kiến phát động các phong trào nhân dân giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sỹ. Năm 1948, Người gửi thư cho các cháu nhi đồng phát động phong trào công tác Trần Quốc Toản nhằm giúp đỡ các gia đình bộ đội, gia đình thương binh, liệt sỹ. Năm 1951, Người phát động phong trào “Đón thương binh về làng” để Đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân các làng, xã giúp đỡ thương binh làm những công việc nhẹ, phù hợp để có thể tự sinh sống, hòa nhập với cộng đồng, động viên anh chị em thương binh phấn đấu trở thành những người “tàn nhưng không phế”, hăng hái, lạc quan đóng góp sức mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc...

Hằng năm, cứ vào dịp tháng 7, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư thăm hỏi, động viên thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, vừa khẳng định công lao, đóng góp của họ vừa động viên họ: "Các đồng chí đã anh dũng giữ gìn non sông, các đồng chí sẽ trở nên người công dân kiểu mẫu ở hậu phương, cũng như các đồng chí đã từng là chiến sỹ kiểu mẫu ở ngoài mặt trận", để mỗi "thương binh tàn nhưng không phế".

Trên cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khi sang thăm nước Pháp, Người đã viếng thăm và đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm chiến sỹ tử trận tại Biarit, mộ chiến sĩ vô danh tại Khải Hoàn Môn, mộ liệt sĩ bị phát xít Đức bắn trên đồi Valêriêng. Người nói: "Trông thấy nghĩa sỹ Pháp vì độc lập và tự do mà bị người Đức tàn sát, lại nhớ đến nghĩa sĩ Việt cũng vì độc lập, tự do mà cũng bị người khác tàn sát, khiến cho người ta thêm nỗi cảm động ngậm ngùi". Tình yêu thương, nhân ái của vị lãnh tụ kính yêu đã không bị một ranh giới địa lý hay chính trị nào giới hạn mà trở thành yếu tố của lý tưởng chung: Bình đẳng và bác ái giữa hai dân tộc Việt - Pháp. Từ đó, Người khẳng định: Dù ở đâu, bất cứ nơi nào: Độc lập - tự do đều do xương máu của các nghĩa sĩ và sự đoàn kết của toàn dân mà xây nên. "Vậy nên, những người chân chính yêu chuộng độc lập, tự do của nước mình, thì cũng phải kính trọng độc lập, tự do của dân tộc khác".

Tình yêu thương của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với thương binh, liệt sĩ còn được thể hiện ở những nghĩa cử cao đẹp, bình dị và rất đỗi tự nhiên trong đời sống thường ngày. Người thường trích lương, dùng những bộ quần áo, khăn tay, các vật dụng khác để làm quà tặng cho anh em thương binh tại các trại điều dưỡng.

Ghi nhớ công lao của các liệt sỹ, Hồ Chí Minh thường xuyên đặt vòng hoa viếng tại Đài liệt sĩ Hà Nội vào các dịp lễ tết: "Ngày mai là năm mới... Trong lúc cả nước vui mừng, thì mọi người đều thương tiếc các liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, vì dân tộc. Bác thay mặt nhân dân, Chính phủ và bộ đội kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn bất diệt của các liệt sỹ". Người còn ký và ban hành các sắc lệnh về chế độ: "Hưu bổng, thương tật và tiền tuất cho thân nhân tử sĩ"; thành lập sở, ty thương binh, cựu binh ở khu và tỉnh, đặt ra Bảng vàng danh dự, Bằng gia đình vẻ vang và truy trặng, phong tặng các danh hiệu anh hùng, huân, huy chương cho các liệt sỹ, thương binh.

Ngoài những việc làm nghĩa cử cao đẹp đối với thương binh, liệt sỹ, Người cũng nhấn mạnh: Để phong trào "Đền ơn đáp nghĩa" trở thành một phong trào có sức lan tỏa sâu rộng trong thực tiễn, hiệu quả và thiết thực, toàn Đảng, toàn dân phải vinh danh, ghi nhận công lao to lớn của thương binh, liệt sĩ và làm tốt hơn nữa công tác "Đền ơn đáp nghĩa". Nhiều tổ chức Hội như "Hội mẹ chiến sĩ", "Hội ủng hộ thương binh" được thành lập; nhiều phong trào như: "Trần Quốc Toản", "Đón thương binh về làng" được phát động rộng rãi, góp phần cùng Đảng, Nhà nước chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ, thắt chặt thêm tình quân dân.

Nặng lòng với thương binh và gia đình liệt sỹ, trong bản Di chúc thiêng liêng Người căn dặn: "Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình" cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong...", Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách cho họ có nơi ăn, chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần "tự lực cánh sinh".

Đối với các liệt sĩ mỗi địa phương (thành phố, làng, xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi nhận sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta.

Đối với cha, mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương... phải giúp đỡ họ có công ăn, việc làm thích hợp, quyết không để họ bị đói, rét".

Bạc Liêu hiện tuy là một trong những tỉnh nghèo, nhưng công tác “Đền ơn đáp nghĩa”, chăm sóc người có công của tỉnh luôn được các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm, thường xuyên chỉ đạo thực hiện và được toàn dân hưởng ứng tham gia với tất cả tình cảm và tinh thần trách nhiệm.

            Theo số liệu thống kê, hiện toàn tỉnh có khoảng 63.000 người có công. Tuy còn nhiều khó khăn, nhưng trong những năm qua tỉnh Bạc Liêu luôn thực hiện đầy đủ đạt 100% đối tượng người có công được hưởng chính sách, không có đối tượng hưởng sai chính sách. Lãnh đạo tỉnh thường xuyên chỉ đạo thực hiện chính sách ưu đãi đối với thương binh, gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng, nhất là thực hiện chi trả kịp thời, đầy đủ chế độ trợ cấp ưu đãi người có công.

Với truyền thống đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "Đền ơn đáp nghĩa" của dân tộc Việt Nam, ghi nhớ và thực hiện Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 70 năm qua (27/7/1947 - 27/7/2017), Đảng bộ và nhân dân Bạc Liêu đã thường xuyên quan tâm và thực hiện tốt chính sách thương binh, liệt sĩ, chính sách đối với người có công với cách mạng. Các hoạt động "Đền ơn đáp nghĩa" ngày càng đi vào chiều sâu và xã hội hóa cao. Các phong trào xây dựng nhà tình nghĩa, nhà đồng đội, tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa, Quỹ đền ơn đáp nghĩa, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, chăm sóc con liệt sĩ mồ côi, đi tìm hài cốt đồng đội, tu sửa, nâng cấp các nghĩa trang, đài tưởng niệm liệt sỹ... ngày càng thu hút sự tham gia của toàn xã hội./.

ThS Dương Văn Tân

 


Số lượt người xem: 798 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày