SỐ LƯỢT TRUY CẬP

1
0
4
2
0
9
3
Tin tổng hợp Thứ Hai, 15/06/2020, 14:30

Quan điểm của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ đổi mới

Nghiên cứu tư duy mới của Đảng ta về những quan điểm cơ bản về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa chính là việc vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin,

 Tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện và hoàn cảnh mới nhằm: kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tăng cường tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, dự báo chính xác và kịp thời, xử lý hiệu quả các vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn, giải quyết tốt các mối quan hệ phản ánh quy luật đổi mới và phát triển ở nước ta, tất cả vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. V.I. Lênin, người thầy vĩ đại của cách mạng thế giới đã chỉ rõ: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ”[1]. Trải qua các giai đoạn cách mạng, cùng với đường lối xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, Đảng ta luôn đặt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ chiến lược sống còn của cách mạng Việt Nam

Trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước được biểu hiện tập trung ở hai nhiệm vụ chiến lược có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Từ nhận thức đúng đắn vị trí, tầm quan trọng của hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong các kỳ đại hội, nhất là qua hơn 30 năm đổi mới, tư duy xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng ta có sự phát triển và đổi mới mạnh mẽ. Chúng ta ngày càng nhận thức đầy đủ, sâu sắc và toàn diện hơn về hai nhiệm vụ chiến lược, cũng như những chủ trương, biện pháp tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước.

Kể từ khi Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VI năm 1986, tư duy mới của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc đã hình thành và được phát triển qua các kỳ đại hội sau này.

Đại hội đại biểu toàn quốc VII của Đảng chỉ rõ: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, sự ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, quyền làm chủ của nhân dân, làm thất bại mọi âm mưu và hành động của các thế lực đế quốc, phản động phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của toàn dân… Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh; quốc gia, an ninh với kinh tế trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội… Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân với số quân thường trực thích hợp theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; với lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ hùng hậu, có sức chiến đấu cao. Phát triển đường lối và nghệ thuật quân sự, chiến tranh nhân dân trong hoàn cảnh mới”. [2]

Như vậy, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là mục tiêu xuyên suốt của cách mạng Việt Nam, là con đường duy nhất đúng đắn mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã lựa chọn. Trong mối quan hệ biện chứng, hữu cơ đó, độc lập dân tộc là mục tiêu, tiền đề, điều kiện tiên quyết để chúng ta xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Không có độc lập dân tộc thì không thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Thực tế cách mạng Việt Nam đã chứng minh rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ tiến lên chủ nghĩa xã hội, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động khỏi ách áp bức, bóc lột, đưa nhân dân lao động từ địa vị nô lệ, lầm than đến địa vị làm chủ xã hội, xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng giàu đẹp văn minh, tiến bộ. Hiện nay, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, cách mạng Việt Nam đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức; trong đó, thách thức gay gắt nhất là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ. Mục đích của chúng là lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân Việt Nam đã xây dựng sau khi giành được độc lập, chủ quyền lãnh thổ, thống nhất Tổ quốc sau 30 năm chiến tranh giải phóng (1945 - 1975). Do đó, chúng ta phải “kiên quyết, kiên trì” đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động của các thế lực thù địch, nhất là thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội. Thông qua đó, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng và sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với cách mạng Việt Nam nói chung, đối với quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng. Đây là một cuộc đấu tranh không khói súng nhưng đầy cam go, thách thức và hết sức quyết liệt, diễn ra từng ngày, từng giờ và trong thời gian tương đối dài. Vì vậy, toàn quân, toàn dân phải luôn đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên quyết và chủ động đấu tranh, đồng thời phải kiên trì thực hiện các biện pháp phòng, chống, không để xảy ra bạo loạn, khủng bố và các điểm nóng, giữ vững ổn định chính trị - trật tự an toàn xã hội để phát triển đất nước.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1991): trong khi đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta không được lơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, “Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, từng bước tăng cường tiềm lực quốc phòng an ninh của đất nước, xây dựng vững chắc nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân, nâng cao chất lượng các lực lượng vũ trang, bảo vệ vững chắc độc lập, an ninh, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động gây mất ổn định chính trị xã hội, xâm phạm độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, gây tổn hại cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước; ngăn chặn và trừng trị có hiệu quả mọi loại tội phạm, bảo đảm tốt trật tự, an toàn xã hội… Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Kết hợp quốc phòng và an ninh với kinh tế. Gắn nhiệm vụ quốc phòng với nhiệm vụ an ninh, hai mặt có quan hệ khăng khít với nhau của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và chế độ xã hội chủ nghĩa”.[3]

Thực tiễn cách mạng trong giai đoạn hiện nay, khi mà đường lối đối ngoại của đất nước có nhiều biến chuyển và đã thu được những thành công bước đầu. Cùng với quá trình phát triển kinh tế của đất nước, xuất phát từ tình hình thế giới, khu vực và thực tiễn xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới có sự phát triển với nhiều nội dung mới, sâu sắc và toàn diện hơn. Nội hàm cốt lõi của bảo vệ Tổ quốc là: bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc gắn chặt với bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân vững chắc. Đồng thời phải giữ vững môi trường hòa bình ổn định để phát triển đất nước. Điều này không chỉ thể hiện tư duy mới của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh quốc tế và trong nước có những thay đổi nhanh chóng, đan xen cả thời cơ và thách thức, mà còn biểu thị rõ quyết tâm của Đảng ta xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (1996) khẳng định: “Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hóa; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia, dân tộc. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng… kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng và an ninh, quốc phòng và an ninh với kinh tế trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Phối hợp hoạt động quốc phòng và an ninh với hoạt động đối ngoại. Tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, trong đó quân đội nhân dân và công an nhân là lực lượng nòng cốt. Xây dựng quân đội nhân dân và công an nhân dân cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại,… có trình độ sẵn sàng chiến đấu và sức chiến đấu ngày càng cao; thường xuyên cảnh giác, kịp thời đập tan mọi âm mưu và hành động xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và an ninh quốc gia; ngăn chặn và đẩy lùi các tội phạm nguy hiểm và các tệ nạn xã hội, bảo đảm tốt trật tự, an toàn xã hội”.[4]

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) của Đảng và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa IX về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” đã nêu nhận thức mới về nội hàm bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Trong nội dung này Đảng ta đã khẳng định sự cần thiết của việc kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với quốc phòng an ninh, quốc phòng an ninh với kinh tế, qui hoạch phát triển kinh tế xã hội với quốc phòng an ninh. Đồng thời khẳng định: bảo vệ Tổ quốc là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, tư tưởng chỉ đạo về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc được Đảng ta xác định rõ là kiên định về mục tiêu, nguyên tắc chiến lược; linh hoạt, mềm dẻo về sách lược; kiên trì giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế; tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân trong nước, dư luận quốc tế; phân hóa, cô lập các phần tử, các thế lực thù địch ngoan cố chống phá Việt Nam; lấy việc giáo dục, thuyết phục, phòng ngừa là chính, đi đôi với giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, xử lý nghiêm minh hành vi vi phạm pháp luật; chủ động đấu tranh với các âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, không để hình thành tổ chức chính trị đối lập dưới bất kỳ hình thức nào.

Mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã được Đảng ta nhìn nhận toàn diện và sâu sắc hơn. Mục tiêu kết hợp giữa hai nhiệm vụ chiến lược là phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng; là sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, giữa quốc phòng với an ninh, kinh tế, đối ngoại và các lĩnh vực khác, bảo đảm kinh tế - xã hội phát triển ổn định, bền vững; quốc phòng, an ninh được tăng cường. Sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội là nền tảng vững chắc của quốc phòng - an ninh. Phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh; bảo đảm quốc phòng, an ninh trở thành một trong những mục tiêu trọng yếu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; kinh tế phát triển, các vấn đề xã hội được quan tâm giải quyết, đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao, thực hiện tốt công bằng xã hội, quốc phòng, an ninh được bảo đảm, đối ngoại được mở rộng sẽ tạo ra sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn, mạnh mẽ để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam (2006) xác định: bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, “bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hóa, và an ninh xã hội, duy trì trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội, giữ vững ổn định chính trị của đất nước, ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, thù địch, không để bị động, bất ngờ”.[5]

Đây là một trong những nội dung rất quan trọng trong Báo cáo Chính trị của Đảng tại Đại hội đó là vấn đề an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hóa, an ninh xã hội nhất là trong bối cảnh đất nước hiện nay. Sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo trong những năm qua đã đạt được những thành tựu rất to lớn. Theo đó, nền kinh tế vượt qua được nhiều khó khăn, thách thức, quy mô và tiềm lực được nâng lên; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát; tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức hợp lý… An sinh xã hội được quan tâm nhiều hơn và cơ bản được cải thiện; chính trị xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường. Vị thế, uy tín quốc tế của nước ta tiếp tục được nâng cao, chúng ta đang vững bước trên con đường đổi mới. Đảng ta nhấn mạnh trong xây dựng và phát triển đất nước phải bảo vệ độc lập chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh chính trị và đẩy lùi mọi hoạt động chống phá của kẻ thù.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI: Nghị quyết số 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” tiếp tục kế thừa nội hàm bảo vệ Tổ quốc đã được nêu trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa IX; đồng thời chỉ rõ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo về bảo vệ Tổ quốc là: giữ vững sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, không ngừng củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội là lợi ích cao nhất của đất nước; đồng thời luôn nêu cao cảnh giác, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, xâm lược của các thế lực thù địch; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tiếp tục phát triển quan điểm Đại hội X, Đại hội XI của Đảng khẳng định: “Xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trong thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc”. [6] Đây là sự kế thừa, vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân trong lịch sử; nâng lên tầm cao mới truyền thống, bài học kinh nghiệm “lấy dân làm gốc” từ trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, huy động sức mạnh toàn dân tộc trong lịch sử dựng nước, giữ nước hào hùng của cha ông. Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng của việc tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Để xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, Đảng ta đặc biệt chú trọng trang bị cho cán bộ, đảng viên và nhân dân kiến thức về quốc phòng, an ninh, đồng thời cung cấp những thông tin về âm mưu, hoạt động chống phá, nhất là chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch cũng như những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong; các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống. Kiến thức về quốc phòng, an ninh cần được giáo dục, bồi dưỡng thường xuyên trong các cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư. Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh: “Tăng cường tuyên truyền, giáo dục tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia và kiến thức quốc phòng, an ninh, làm cho mọi người hiểu rõ những thách thức lớn tác động trực tiếp đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới, như chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao, tranh chấp chủ quyền biển, đảo, vùng trời, “diễn biến hòa bình”, bạo loạn chính trị, khủng bố, tội phạm công nghệ cao, tội phạm xuyên quốc gia”.

Để chủ động phòng ngừa tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, Đảng ta nhấn mạnh cần chăm lo xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh; chủ động vận dụng tư tưởng, lý luận cách mạng để đánh bại tư tưởng, lý luận phản động; lấy chính nghĩa và sự thật đánh bại sự xuyên tạc, bôi nhọ, vu cáo; tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; sử dụng sức mạnh của cả hệ thống chính trị, của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng để phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trong công tác bảo đảm an ninh chính trị nội bộ, phải quán triệt phương châm “chủ động phòng ngừa, giữ vững bên trong là chính”; “giữ vững bên trong” là nội dung cốt lõi của công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nâng cao khả năng “tự bảo vệ” của từng cơ quan, tổ chức, khả năng “tự đề kháng” của mỗi cán bộ, đảng viên trước tác động của “diễn biến hòa bình” cũng như mặt trái của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế. Đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới. Mọi âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch, phản động sẽ bị vô hiệu hóa, nếu nội bộ các cơ quan, tổ chức, đoàn thể đoàn kết, thống nhất, thật sự trong sạch, vững mạnh; nếu mỗi cán bộ, đảng viên vững vàng bản lĩnh chính trị, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”.

Các đại hội trên chủ yếu tập trung vào các vấn đề cơ bản là: Độc lập dân tộc; Chủ quyền quốc gia; Bảo vệ Tổ quốc gắn với bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, củng cố quốc phòng - an ninh gắn với xây dựng lực lượng vũ trang theo hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”. Bảo vệ Tổ quốc gắn chặt với bảo vệ Đảng, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ công cuộc đổi mới.

Kế thừa tư duy mới về quan điểm xây dựng, củng cố quốc phòng - an ninh của các kỳ Đại hội trước và yêu cầu của thực tiễn đặt ra. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng nhấn mạnh mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, an ninh: “Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội”.[7]

Đó là cơ sở định hướng để các cấp, các ngành tập trung triển khai thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải. Nội dung trên phản ánh rất rõ quan điểm, tư tưởng của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kì mới trên những vấn đề sau: nội hàm “kiên quyết, kiên trì đấu tranh” chính là tư duy mới của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong mục tiêu trọng yếu, quan điểm của Đảng là bảo vệ Tổ quốc phải toàn diện, trong đó có bảo vệ nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đây là điểm mới so với các kỳ đại hội trước đây. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng còn khẳng định: phải đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết. Đây là một trong những quy luật cơ bản giành thắng lợi của cách mạng Việt Nam, trong cả thời kỳ chiến tranh giải phóng và trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy chúng ta rằng: “Hễ một dân tộc đã đứng lên kiên quyết tranh đấu cho Tổ quốc họ thì không ai, không lực lượng gì chiến thắng được họ” và “Muốn cách mạng thành công thì phải đoàn kết dân chúng lại…”, “phải có Đảng vững bền, phải bền gan, phải thống nhất”.[8]

Tại Đại hội XII, Đảng ta có tầm nhìn sâu, rộng hơn về không gian và thời gian bảo vệ Tổ quốc. Đảng ta xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội”.[9]

Đại hội XII xác định rõ trách nhiệm của cả hệ thống chính trị cũng như nhiệm vụ cụ thể của mỗi lực lượng đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh: “Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”.[10] Nhiệm vụ này đã được các kỳ đại hội trước đề cập đến, nhưng chưa thật rõ như Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh “là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên”.

Để bảo đảm lực lượng vũ trang luôn là công cụ sắc bén, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, Đảng chỉ rõ: “Tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”.[11]

 Cùng với đó, “Tích cực, chủ động chuẩn bị lực lượng đủ mạnh và các kế hoạch, phương án tác chiến cụ thể, khoa học, sẵn sàng bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của Tổ quốc trong mọi tình huống”.[12] Quan điểm xây dựng quốc phòng an ninh thể hiện rõ tính định hướng chiến lược của Đảng ta về nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, nhằm đảm bảo cho lực lượng nòng cốt thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh luôn chủ động trước mọi tình huống, không để bị động bất ngờ.

Đặc biệt, tại Đại hội này, Đảng ta đề ra quan điểm: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”. Đây vừa là quan điểm mới, vừa là định hướng chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Như vậy, chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới là một bộ phận trọng yếu của chiến lược an ninh quốc gia nhằm cụ thể hóa đường lối tăng cường quốc phòng an ninh của Đảng trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng, đó là chiến lược tổng hợp, toàn diện do Đảng và chính phủ đề ra. Lịch sử đã chứng minh, quy luật phát triển của nước ta là dựng nước luôn đi đôi với giữ nước, xây dựng luôn đi đôi với bảo vệ Tổ quốc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta đã giành được độc lập, tự do, thống nhất đất nước và có vị thế ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta nhất định sẽ giành thắng lợi trong công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

 

                                                              ThS Lê Cẩm Lệ - Phó trưởng khoa Xây dựng Đảng

 

-------------------

 [1] V.I. Lênin: Toàn tập, tập 37, Nxb Tiến bộ Maxcơva (1977), Tr. 145

[2] Văn kiện Đảng toàn tập: Nxb. Chính trị quốc gia, HN (2007), Tr.142 – 143

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, HN (1996), Tr.118

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, HN (2001), Tr.117

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, HN (2006), Tr.109

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, HN (2011), Tr.170

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, HN (2016), Tr.147

[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, HN 2011. Tập II. Tr.369.

[9] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, HN (2016), Tr.147

[10] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, HN (2016), Tr.148

[11] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, HN (2016), Tr.149

[12] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, HN (2016), Tr.150


Số lượt người xem: 76 Bản inQuay lại

TIN MỚI HƠN

TIN ĐÃ ĐƯA

Xem tiếp
Xem theo ngày Xem theo ngày