SỐ LƯỢT TRUY CẬP

1
0
9
1
6
2
6
Tin tổng hợp Thứ Năm, 23/04/2020, 13:20

Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

Đại đoàn kết dân tộc là truyền thống cực kỳ quý báu của Nhân dân ta trong suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã kế thừa và phát huy tinh thần đại đoàn kết dân tộc – đây là cống hiến to lớn có giá trị lý luận và giá trị thực tiễn hết sức quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam.

 Như chúng ta đã biết: Đảng lãnh đạo nhân dân làm cách mạng nhưng cách mạng là sự nghiệp của đông đảo quần chúng nhân dân. Sự nghiệp ấy chỉ có thể được thực hiện bằng sức mạnh của cả dân tộc, bằng đại đoàn kết dân tộc.

Điều này đã được Hồ Chí Minh nhận thức từ rất sớm. Theo Hồ Chí Minh đại đoàn kết dân tộc là một trong những nhân tố quan trọng bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh luôn kêu gọi nhân dân ta phải biết đoàn kết, đoàn kết chặt chẽ, đoàn kết rộng rãi, chỉ có như vậy cách mạng mới thành công nhanh chóng. Hồ Chí Minh kêu gọi:

 

Hởi ai con cháu hồng bang

 

Chúng ta phải biết kết đoàn mau mau”(1)

 

Như vậy, đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh là đại đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước, đoàn kết mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam thành một khối vững chắc trên cơ sở thống nhất về mục tiêu chung và những lợi ích căn bản của dân tộc, đều này được thể hiện thông qua Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (ngày 19/12/1946) của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc được hình thành dựa trên nền tảng sau:

 

Một là: Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát triển tinh thần yêu nước, nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồng dân tộc

Đại đoàn kết dân tộc đã dược hình thành và củng cố trong lịch sử dân tộc, lịch sử dựng nước và giữ nước của ông cha ta, nó đã tạo thành truyền thống bền vững thấm sâu vào tư tưởng tình cảm, tâm hồn của mỗi người Việt Nam.

 

Đối với mỗi người Việt Nam yêu nước, nhân nghĩa thì đoàn kết trở thành: tình cảm tự nhiên, một triết lí sống, phép ứng xử và tư duy chính trị, phép trị nước và đánh giặc giữ nước của ông cha ta.

 

Bản thân Hồ Chí Minh đã sớm hấp thụ và nhận thức rõ sức mạnh vô cùng to lớn của đại đoàn kết dân tộc, Người đã từng khẳng định rằng: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”(

 

2). Tuy nhiên, truyền thống đoàn kết dân tộc không phải là “nhất thành bất biến” mà luôn tồn tại trong thế “tiềm năng”, phát huy được hay không còn tùy thuộc vào khả năng sự tiến bộ và trách nhiệm của các giai cấp và tầng lớp cầm quyền trước nhiệm vụ lịch sử đặt ra.

Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh và phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, làm nên những chiến công hiễn hách đập tan lũ cướp nước và bán nước như: Trận Bạch Đằng, trận Chi Lăng – Xương Giang, trận Ngọc Hồi - Đống Đa, chiến dịch Điện Biên Phủ, chiến dịch Hồ Chí Minh...

 

Hai là: Hồ Chí Minh đã tiếp thu những nguyên lí cơ bản của Chủ Nghĩa Mác – Lênin, cách mạng là sự nghiêp của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử

Trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” viết năm 1848, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra một khẩu hiệu chiến đấu vang dội: “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại”. V.I.Lênin đã phát triển khẩu hiệu đó trong điều kiện mới chủ nghĩa tư bản ở giai đoạn tột cùng của nó là chủ nghĩa đế quốc: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại” và V.I.Lênin đã lãnh đạo cách mạng vô sản ở nước Nga giành thắng lợi (cách mạng tháng Mười Nga năm 1917) trong đó hai giai cấp cơ bản công nhân và nông dân là hai giai cấp nòng cốt cơ bản làm cơ sở cho đại đoàn kết dân tộc, đại đoàn kết quốc tế.

Như vậy chủ nghĩa Mác – Lênin là cơ sở lý luận quan trọng nhất đối với quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc. Đến với chủ nghĩa Mác- Lênin, Hồ Chí Minh đã thấy rõ tính tất yếu của đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế trong đấu tranh cách mạng, đến vai trò của quần chúng với tiến trình phát triển của lịch sử. Người đã phát triển khẩu hiệu của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin thành khẩu hiệu: “lao động tất cả các nước đoàn kết lại”.

Tin vào dân, dựa vào dân, vì quyền lợi của nhân dân trong tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh là sự kế thừa và nâng cao tư duy chính trị truyền thống của dân tộc: “Nuớc lấy dân làm gốc”, “Đẩy thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn nhìn thấy rõ, thấu hiểu và thấu cảm sâu sắc sức mạnh của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chế độ mới, đúc rút ra những bài học có tính chân lý: “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong”(3). Theo Hồ Chí Minh, trên thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân; dân là gốc dễ, là nền tảng của khối đại đoàn kết; dân là chủ thể của khối đại đoàn kết; dân là chỗ dựa vững chắc của Đảng và của cả hệ thống chính trị.

 

Ba là: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc được hình thành trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thành công và thất bại của phong trào yêu nước, phong trào cách mạng Việt Nam và thế giới

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc được hình thành từ sự khảo sát và tổng kết kinh nghiệm phong trào cách mạng thế giới, nhất là phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa.

Thực tế yêu cầu của thời đại mới để đánh thắng được lực lượng quân đội to lớn của kẻ thù với tiềm lực quân sự và kinh tế to lớn hơn ta nhiều lần đòi hỏi chúng ta phải có lực lượng lãnh đạo đem lại niềm tin cho nhân dân mới có sức quy tụ, thu hút, tập hợp cả dân tộc vào công cuộc đấu tranh cách mạng, phải đề ra được đường lối, phương pháp cách mạng đúng đắn đó là xây dựng được khối đại đoàn kết toàn dân bền vững thì cách mạng Việt Nam mới dành được thắng lợi.

Qua nghiên cứu các phong trào đấu tranh của nhân dân ta từ khi thực dân Pháp xâm lược. Hồ Chí Minh đã nhận thấy được hạn chế trong đường lối và phương pháp đoàn kết, tập hợp, chủ trương tìm kiếm đồng minh của các vị tiền bối như: Hoàng Hoa Thám tập hợp nông dân làm nghĩa quân, Phan Bội Châu chỉ chủ trương tập hợp lực lượng gồm có các giai tầng trong xã hội như trí thức, tiểu tư sản, tư sản mà chưa thấy được sức mạnh của các giai cấp và các tầng lớp khác trong xã hội…

 

Bốn là: Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh được tiếp thu từ các giá trị nhân bản trong văn hóa dân tộc và nhân loại

Các giá trị văn hoá phương Đông (chủ yếu là Nho giáo và Phật giáo): Nho giáo là tư tưởng “đại đồng”, tư tưởng “nhân ái” và “luân lý yêu thương” và  “Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”(4). Phật giáo là tư tưởng dân chủ bình đẳng chất phác, tinh thần lục hoà, vị tha và nếp sống giản dị và “Phật Thích ca dạy: Đạo đức là từ bi”(5).

Hồ Chí Minh được tiếp thu các giá trị nhân bản trong văn hoá phương Tây:  Thiên Chúa Giáo đó là “lòng nhân ái cao cả” và “Chúa Giêxu dạy: Đạo đức là bác ái”(6); những tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái của tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp 1791, tuyên ngôn độc lập Mỹ năm 1776; được tiếp xúc với văn hóa tiến bộ Pháp, các tác phẩm nổi tiếng của Vônte, Môngtet xkiơ, Rút xô, Huy Gô, văn hoá Nga…

 

Hồ Chí Minh là biểu tượng của sự kết hợp hài hoà giữa cốt cách thâm trầm, sâu lắng của phương Đông với phong cách khoáng đạt cởi mở của phương Tây. Bởi vây, mà tư tương Hồ Chí Minh nói chung, tư tương đại đoàn kết nói riêng không chỉ dễ thấm sâu vào lòng người Việt Nam, lòng người phương Đông mà còn có sức hấp dẫn, lôi cuốn với những tâm hồn phương Tây.

Hồ Chí Minh không chỉ kêu gọi, vận động mọi người đoàn kết, mà chính Người còn cảm hoá, cuốn hút, tập hợp lực lượng bằng tấm lòng “Trung với nước, hiếu với dân”, bằng cuộc đời “cần, kệm, liêm, chính, chí công vô tư”, bằng phẩm chất: “Những người mà: Giàu sang không thể quyến rũ, Nghèo khó không thể chuyển lay, Uy lực không thể khuất phục”(7). Chính sự thống nhất hài hoà giữa tư tưởng - hành động - đạo đức - nhân cách của Hồ Chí Minh đã làm cho đại đoàn kết không dừng lại ở khẩu hiệu tư tưởng mà thực sự trở thành sức mạnh quy tụ toàn dân tộc.

Như vậy tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc được hình thành và phát triển trên một nền tảng lý luận khoa học và thực tiễn phong phú sâu sắc của dân tộc Việt Nam.

Đoàn kết là lẽ sống, đạo lý của Đảng, của dân tộc và là đức tính cơ bản của người cách mạng. Ai không có khả năng tập hợp, đoàn kết quần chúng và các đồng chí của mình thì không thể làm cách mạng, không thể làm cán bộ. Người căn dặn: “Các đồng chí từ trung ương đến các chi bộ phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(

 

8). Trong Bản di trúc của mình, Hồ Chí Minh đã nhắc tới đại đoàn kết: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là toàn Đảng toàn dân toàn quân ta đoàn kết xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh dân chủ độc lập đóng góp xứng đáng vào cách mạng vô sản thế giới”.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam qua hơn 80 năm qua đã chứng minh hùng hồn sức sống kỳ diệu và sức mạnh vĩ đại của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc. Tư tưởng cách mạng và nhân văn đó của Hồ Chí Minh trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam từ cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng đó của Người đã thấm sâu vào trái tim và khối óc, lý trí và tình cảm của mọi người Việt Nam yêu nước; biến thành hành động cách mạng của hàng triệu con người, tạo nên sức mạnh vô địch trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 

                                   

 

 

                        ThS. Nguyễn Minh Mẫn – Giảng viên khoa Xây dựng Đảng



(1) “Bài ca sợi chỉ” của Hồ Chí Minh in trên Báo Việt Nam độc lập số ra ngày 1-4-1942

(2) Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2011, t.7, tr.38.

(3) Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2011, t.15, tr.280.

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.7, tr.95.

(5), (6)  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.7, tr.95.

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.7, tr.50.

 

(8)Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.15, tr.622.

 


Số lượt người xem: 200 Bản inQuay lại

TIN MỚI HƠN

TIN ĐÃ ĐƯA

Xem tiếp
Xem theo ngày Xem theo ngày