SỐ LƯỢT TRUY CẬP

1
0
9
1
5
3
9
Tin tổng hợp Thứ Sáu, 17/07/2020, 15:00

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết các tôn giáo

Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo hay bất cứ nội dung nào khác, trước hết phải thấy mục đích cao cả của cuộc đời Người là toàn tâm, toàn ý vì cuộc đấu tranh giải pháng dân tộc, giải phóng những người cùng khổ, nhằm đấu tranh cho dân tộc và nhân loại ấm no, hạnh phúc, công bằng; một tôn giáo đại đồng trên cơ sở hữu nghị bình đẳng giữa các quốc gia, dân tộc.

  Chính vì vậy, thế giới công nhận Hồ Chí Minh là vị anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hóa kiệt xuất của thế giới.

          Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh luôn tìm cách khai thác các giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo, phát huy tác động tích cực của  mỗi tôn giáo để phục vụ Nhân dân; đồng thời tìm cách đấu tranh khắc phục những tiêu cực của tôn giáo. Theo Hồ Chí Minh hầu hết các tôn giáo đều có khả năng hướng thiện, giáo dục con người vươn tới các chuẩn mực đạo đức tốt đẹp. Các tôn giáo cũng tạo ra những sinh hoạt văn hóa cộng đồng để duy trì niềm tin tôn giáo. Nhưng tôn giáo cũng chứa đựng những nhân tố nhảy cảm dễ bị lôi kéo vào xu hướng tiêu cực và dễ gây nên những xung đột chính trị - xã hội. Do đó, Hồ Chí Minh đã khai thác các giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo, tìm những điểm tương đồng giữa đạo đức và văn hóa của tôn giáo với nhiệm vụ chung của cách mạng để khuyến khích cổ vũ và tập hợp lực lượng thực hiện mục tiêu chiến lược của cách mạng.

          Hồ Chí Minh đã tìm thấy ở các tôn giáo điều phản ánh niềm tin, khát vọng tự do và hạnh phúc của những người bị áp bức, đau khổ; giá trị chân, thiện, trừ ác. Người viết: “Chúa Giê Su dạy: đạo đức là bác ái, phật Thích Ca dạy: đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: đạo đức là nhân nghĩa”. Hồ Chí Minh nhấn mạnh tới lý tưởng và khát vọng cao cả mà các tôn giáo vươn tới: mục tiêu cao cả của phật Thích Ca và chúa Giê Su đều giống nhau: Thích Ca và Giê Su điều mong muốn mọi người có cơm ăn, áo mặc, bình đẳng, tự do và thế giới đại đồng. Theo Người đây chính là điểm tương đồng làm cơ sở cho sự đoàn kết tôn giáo và đoàn kết dân tộc. Mọi người dù ở các tôn giáo khác nhau hoặc không theo tôn giáo đều có thể học tập ở các tôn giáo này giá trị nhân văn, nhân bản sâu sắc. Hồ Chí Minh trân trọng và ca ngợi các giá trị nhân bản trong đạo đức, văn hóa tôn giáo. Thậm chí Người cho rằng: Khổng Tử, Giê Su, C.Mác, Tôn Dật Thiên nếu còn sống ở trên đời này, nếu họ tập hợp một chỗ… Họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tầm nhìn của Hồ Chí Minh đối với các tôn giáo là tầm nhìn đỉnh cao của văn hóa nhân loại, tầm nhìn của tương lai vượt qua giới hạn của lịch sử của những thiên kiến tôn giáo, giai cấp và dân tộc để thấy được giá trị đạo đức tích cực của tôn giáo; khai thác tôn giáo để phục vụ cho mục đích cách mạng.

          Để thực hiện đoàn kết tôn giáo trong chiến lược đại đoàn kết toàn dân theo Hồ Chí Minh một vấn đề mang tính nguyên tắc là phát huy yếu tố tương đồng để khắc phục sự dị biệt, cố gắng tìm ra mẫu số chung của toàn dân tộc. Mẫu số chung  theo tư tưởng của Người là: không có gì quý hơn độc lập tự do, xây dựng một đất nước hòa bình thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào cách mạng thế giới. Đây chính là điểm quy tụ mà Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm, dẫn dắt, tập hợp được tuyệt đại đa số quần chúng Nhân dân, không phân biệt tôn giáo, dân tộc, đảng phái,… vào Mặt trận thống nhất trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược giành độc lập cho dân tộc. Một ngày sau ngày nước nhà độc lập (03/9/1945), trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ Hồ Chí Minh đề nghị Chính phủ thực thi sáu điểm trong đó có điểm thứ sáu là: thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào lương giáo để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: “tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết”. Mặc dù giai đoạn khó khăn nhất của cách mạng đã đi qua song rất nhiều vấn đề hệ trọng được đặt ra để giải quyết, hơn nữa trong điều kiện ấy, tư tưởng báo thù, báo oán dễ có điều kiện trỗi dạy. Theo Hồ Chí Minh chiến lược đại đoàn kết có tầm quan trọng đặc biệt, Người chủ trương thực hiện đoàn kết lương giáo, đoàn kết dân tộc cực kỳ phong phú và sinh động. Đoàn kết đồng bào có đạo và không có đạo giữa đồng bào theo đạo này và đạo khác, giữa đồng bào trong nước và đồng bào các dân tộc khác trên thế giới. Đoàn kết được thể hiện cả trong kinh tế, chính trị và văn hóa - xã hội. Đoàn kết không phải thủ đoạn chính trị mà là chiến lược nhất quán. Người nói: “Phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương giáo và đồng bào các tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hòa thuận ấm no, xây dựng Tổ quốc”. Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ vận động, kêu gọi đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc mà Người còn sáng lập ra Mặt trận dân tộc thống nhất. Hồ Chí Minh nói rằng: nhờ có khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong Mặt trận Việt Minh mà Cách mạng Tháng Tám thành công. Sau cách mạng không những chỉ đạo củng cố Mặt trận Việt Minh mà chủ trương mở rộng khối đoàn kết để tập hợp tất cả những ai chưa có điều kiện tham gia Mặt trận Việt Minh thì có điều kiện tham gia sự nghiệp kháng chiến kiến quốc của dân tộc. Trong kháng chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai khi chuyển sang tổng phản công thì Người chủ trương thống nhất Việt Minh “Việt Nam Độc lập Đồng minh” và Liên Việt “Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam” thành Mặt trận thống nhất. Để đạt được kết quả này, Hồ Chí Minh đã dành sự cố gắng xây dựng khối đại đoàn kết ở vùng đồng bào là tín đồ tôn giáo. Người luôn quan tâm giáo dục, cổ vũ họ hướng tới đoàn kết lương giáo để đi đến đoàn kết toàn dân thực hiện kháng chiến kiến quốc. Tư tưởng đoàn kết của Người bao trùm tất cả vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì lợi ích của Nhân dân; đảm bảo và tôn trọng tự do tín ngưỡng tôn giáo của Nhân dân. Để đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo, đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, theo Người phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và quyền không tín ngưỡng của Nhân dân. Tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần không thể thiếu đối với Nhân dân, là cái thiêng liêng của mỗi người không ai được xâm phạm hay làm tổn hại. Theo Hồ Chí Minh tôn trọng Nhân dân, tôn trọng nhu cầu tâm linh của một bộ phân Nhân dân, là tôn trọng tự do, dân chủ trong đời sống văn hóa tinh thần của xã hội.

          Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ quan điểm về việc chống vi phạm tự do tôn giáo dưới mọi hình thức ngay sau khi khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Người đã ban hành mệnh lệnh cho cán bộ của Đảng, Nhà nước và đoàn thể phải tôn trọng tín ngưỡng, phong tục tập quán của đồng bào và giải thích hướng dẫn cho đồng bào thực hiện quyền tự do tín ngưỡng. Thực chất của tự do tín ngưỡng tôn giáo được Hồ Chí Minh khẳng định: là cốt đoàn kết tất cả các đồng bào để làm cho Tổ quốc độc lập, chứ không phải chia rẽ, phản đối tôn giáo. Tự do tín ngưỡng là vấn đề dễ bị kẻ địch lợi dụng, xuyên tạc, tuyên truyền, lừa bịp Nhân dân. Người còn viết thư giử các giáo mục và nói chuyện với các vị linh mục thể hiện thái độ khoan dung độ lượng và nhân từ của Người với đồng bào các tôn giáo đã tạo nên lòng biết hơn, sự kính trọng của tín đồ chức sắc tôn giáo trong và ngoài nước đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của Nhân dân theo Hồ Chí Minh đây là phương pháp đoàn kết phản ánh tinh thần dân chủ và nhân văn sâu sắc, có sức mạnh quy tụ được quần chúng tín đồ xung quanh Đảng thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng.

Trong giai đoạn hiện nay các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại sự nghiệp xây dựng đất nước. Do đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết các tôn giáo góp phần quan trọng vào quá trình xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

                                                             ThS Nguyễn Văn Vũ – Phó Trưởng khoa Lý luận cơ sở


Số lượt người xem: 81 Bản inQuay lại

TIN MỚI HƠN

TIN ĐÃ ĐƯA

Xem tiếp
Xem theo ngày Xem theo ngày