Liên kết web
Thăm dò
Thống kê truy cập

null Tiến bộ và công bằng xã hội trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Tin tổng hợp
Thứ tư, 22/04/2020, 10:46
Màu chữ Cỡ chữ
Tiến bộ và công bằng xã hội trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

 Công bằng xã hội là sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân. Bình đẳng trong chế độ phân phối thu nhập, cơ hội phát triển và điều kiện thực hiện cơ hội. Như vậy, khái niệm công bằng xã hội rất rộng bao gồm các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.

Dưới gốc độ kinh tế học, khái niệm công bằng được sử dụng theo hai chiều hướng. Thứ nhất, theo chiều ngang, tức là đối xử ngang nhau với những người có đóng góp như nhau. Thứ hai, theo chiều dọc tức là đối xử khác nhau với những người có điều kiện khác nhau.

Dưới gốc độ chính trị thì khái niệm công bằng xã hội mang tính chuẩn tắc, nó phụ thuộc vào quan niệm khác nhau của mỗi giai cấp và gắn với mục tiêu xây dựng đất nước của mỗi quốc gia. Bởi vì quan niệm này gắn với nguyên tắc để đảm bảo thực hiện công bằng xã hội. Nguyên tắc thứ nhất, đảm bảo sự tương xứng giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa làm và hưởng, giữa lao động và sự trả công… nguyên tắc này được thực hiện bởi cơ chế thị trường và sự điều tiết, quản lý của nhà nước. Nguyên tắc thứ hai đó là đảm bảo xóa bỏ sự nghèo khổ cùng cực, nguyên tắc này được thực hiện bởi sự điều tiết của nhà nước và sự tham gia của công đồng.

Trong suốt quá trình đổi mới kinh tế, đảng ta không chỉ quan tâm đến thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế mà còn luôn quan tâm đến nâng cao đời sống của mọi tầng lớp nhân dân và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đã chỉ rõ: “… tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”. Xuất phát từ quan điểm đó, Đảng ta đã cụ thể hóa chính sách thực hiện gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, đó là công bằng xã hội thể hiện ở khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất; thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu; khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói giảm nghèo; phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa… và các vấn đề xã hội đều được giải quyết theo tinh thần xã hội hóa.

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII chủ trương: “Tiếp tục quán triệt và xử lý tốt các quan hệ lớn đó là quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển, giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, giữa tuân theo quy luật thị trường và đảm bảo định hướng XHCN… giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội”.

Để thực hiện thành công quan điểm của đảng về tiến bộ và công bằng xã hội trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, chúng ta phải thực hiện tốt các nội dung sau:

             Một là, nâng cao trình độ phát triển con người

            Phát triển con người là một quá trình nhằm mở rộng khả năng lựa chọn của dân chúng. Phát triển con người gồm hai mặt đó là sự hình thành năng lực của con người và việc sử dụng các năng lực đó cho các hoạt động kinh tế - xã hội.

Khi kinh tế tăng trưởng sẽ có điều kiện để phát triển con người, bởi vì tăng trưởng kinh tế làm gia tăng thu nhập bình quân đầu người và đây cũng chính là cơ sở để con người được chăm sóc y tế, phát triển giáo dục – đào tạo. Sự phát triển y tế, giáo dục – đào tạo là những nhân tố quyết định đến tình trạng sức khỏe, tuổi thọ bình quân, tỷ lệ người lớn biết chữ, số năm đi học bình quân. Khi tăng trưởng kinh tế cao, ổn định và dài hạn sẽ có ảnh hưởng tích cực đến tình trạng đi học của phụ nữ, góp phần nâng cao chỉ số phát triển giới, chỉ số quyền lực giới từ đó thúc đẩy phát triển con người.

Hai là, nâng cao mức sống dân cư

Mức sống dân cư là một phạm trù kinh tế - xã hội được xác định bằng mức độ thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên trong xã hội. Khi mức độ thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần cho dân cư tăng lên tức là mức sống dân cư được nâng cao.

Để nâng cao mức sống dân cư, ngoài điều kiện cần là tăng trưởng kinh tế thì việc điều tiết phân phối kết quả tăng trưởng kinh tế đóng vai trò hết sức quan trọng, bởi vì trên thực tế có những quốc gia có mức thu nhập bình quân đầu người khá cao nhưng tỷ lệ dân số đói nghèo, không được tiếp cận dịch vụ y tế giáo dục lại cao hơn so với các nước có mức thu nhập bình quân đầu người thấp.

Từ những phân tích trên có thể khẳng định tăng trưởng kinh tế chỉ là điều kiện cần, muốn nâng cao mức sống dân cư cần phải có điều kiện đủ đó chính là vai trò điều tiết phân phối kết quả tăng trưởng kinh tế của nhà nước. Cụ thể là việc nhà nước giải quyết các mối quan hệ: giữa tiêu dùng cuối cùng với tích lũy tái đầu tư; giữa tiêu dùng của cá nhân với tiêu dùng của chính phủ; giữa phân phối thu nhập theo chức năng và phân phối thu nhập lại. Giải quyết hài hòa các mối quan hệ trên có tác dụng thúc đẩy các hộ gia đình, các thành viên trong xã hội chuyển nguồn lực sở hữu vào quá trình sản xuất và dịch vụ, mở rộng quy mô nguồn lực, nâng cao chất lượng nguồn lực cũng như sử dụng nó hiệu quả nhất để tạo ra sự tăng trưởng cho nền kinh tế.

Ba là, thực hiện giảm nghèo

Giảm nghèo là quá trình cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho bộ phận dân cư nghèo, từng bước đưa bộ phận dân cư này thoát khỏi tình trạng nghèo đói. Giảm nghèo còn là cách thức làm giảm số lượng và tỷ lệ người nghèo trong xã hội, thu hẹp khoản cách giàu nghèo giữa các vùng, các địa bàn, các dân tộc, nhóm dân cư góp phần thực hiện tăng trưởng kinh tế bền vững và công bằng xã hội.

Giảm nghèo là chuyển từ tình trạng có ít điều kiện lựa chọn hướng đến sự đầy đủ hơn để cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người. Trước hết là về đường giao thông, y tế, giáo dục, văn hóa, nước sạch sinh hoạt, nhà ở… bên cạnh đó là tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận ngày càng thuận lợi hơn về các dịch vụ kinh tế - xã hội cơ bản như tiếp cận nguồn vốn tín dụng, tiếp cận việc làm, tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật vào trong sản xuất.

Bốn là, thực hiện bình đẳng xã hội

Bình đẳng xã hội là một tình trạng mà trong đó tất cả mọi người trong xã hội hay một nhóm cụ thể nào đó có địa vị, tình trạng pháp lý tương tự như nhau ở những khía cạnh nhất định (quyền dân sự, quyền tự do ngôn luận, quyền sở hữu…) và tiếp cận bình đẳng đối với những hàng hóa và dịch vụ xã hội. Như vậy, bình đẳng xã hội không chỉ bó hẹp trong một lĩnh vực xã hội nào đó mà nó là sự công bằng trong tham gia và hưởng thụ kết quả hoạt động trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, giới… với ý nghĩa này, bình đẳng xã hội gắn với phát triển toàn diện con người và kết quả của sự phát triển đó.

Bình đẳng xã hội được thực hiện trên ba nội dung cơ bản: thứ nhất, cơ hội trong cuộc sống, bao gồm tất cả những thuận lợi vật chất có thể cải thiện chất lượng cuộc sống. Nó không chỉ bao gồm những thuận lợi về vật chất, của cải, tài sản và thu nhập mà cả những điều kiện như lợi ích, bảo vệ sức khỏe hay an ninh xã hội. Thứ hai, địa vị xã hội, được tạo nên và thừa nhận bởi những thành viên của các nhóm người trong xã hội với những tiêu chí, tiêu chuẩn (tiêu chuẩn về của cải vật chất, địa vị chính trị…) chủ quan do ý chí của một số thành viên trong nhóm người có lợi thế trong xã hội. Thứ ba, ảnh hưởng chính trị, được quyết định ưu thế vật chất hoặc địa vị xã hội. Như vây, bình đẳng xã hội là những cơ hội lựa chọn thực tế của một nhóm xã hội, trong một xã hội cụ thể, một nhóm người có thể có cơ hội, trong khi các nhóm khác thì không. Tất cả các xã hội, cả quá khứ hay hiện tại đều có đặc trưng cơ bản của xã hội đó, đặc trưng đó được tạo nên bởi sự khác biệt về cách ứng xử khác nhau về quyền sử dụng của cải, quyền lực và uy tín của giai cấp xã hội, của giới tính, chủng tộc, tôn giáo… các nội dung này quyết định đến sự phân tầng trong tổ chức xã hội và đó cũng là nguyên nhân của bất bình đẳng xã hội.

Như vây, khi nói đến tiến bộ và công bằng xã hội là nói đến tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ công bằng xã hội. Bởi vì, tăng trưởng kinh tế là cơ sở, là điều kiện để nâng cao phúc lợi xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Khi thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội sẽ tạo động lực và môi trường thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, sẽ tạo điều kiện cho người lao động đượng thụ hưởng, sẽ khuyến khích người lao động vươn lên học tập, nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề để có năng suất lao động cao, có thu nhập cao góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

                                                                          ThS Trần Kim Cương – Phó Trưởng khoa Lý luận cơ sở

Số lượt xem: 49

Dịch vụ công Quốc gia Hệ thống văn bản của tỉnh CSDL hộ kinh doanh Thư điện tử công vụ Một cửa điện tử
© TRƯỜNG CHÍNH TRỊ CHÂU VĂN ĐẶNG TỈNH BẠC LIÊU
Địa chỉ: Số 7, Đường Nguyễn Tất Thành, phường 1, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu
Điện thoại: 0781. 3823965 Fax: 0781. 3829654