Liên kết web
Thăm dò
Thống kê truy cập

null Quan điểm của Hồ Chí Minh về thành phần kinh tế và sự vận dụng của Đảng ta

Tin tổng hợp
Thứ sáu, 07/08/2020, 13:10
Màu chữ Cỡ chữ
Quan điểm của Hồ Chí Minh về thành phần kinh tế và sự vận dụng của Đảng ta

Thứ nhất, quan điểm của Hồ Chí Minh về thành phần kinh tế
Trên cơ sở vận dụng quan điểm của V.I.Lênin và phân tích đúng đắn hoàn cảnh lịch sử đặc thù của Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến,

 Bác đã nhận thức rõ, thời kỳ quá độ (TKQĐ) lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước ta là một thời kỳ lịch sử mà nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của CNXH,… tiến dần lên CNXH, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến. Trong TKQĐ lên CNXH ở những nước như nước ta, chế độ sở hữu thiết yếu phải đa dạng, cơ cấu kinh tế phải có nhiều thành phần. Và với điểm xuất phát đi lên CNXH của nước ta về kinh tế là thấp kém, cho thấy cần sự tồn tại của một nền kinh tế nhiều thành phần.

Sau khi hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Bắc, giành độc lập về chính trị, chính quyền đã về tay Nhân dân, Bác chủ trương vừa xây dựng, vừa cải tạo đất nước. Với sự đa dạng của quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, Người đã xác định rõ những thành phần kinh tế đang tồn tại và hoạt động: “Trong chế độ dân chủ mới, có năm loại kinh tế khác nhau:

A- Kinh tế quốc doanh (thuộc CNXH, vì nó là của chung của nhân dân).

B- Các hợp tác xã (nó là nửa CNXH, và sẽ tiến đến CNXH).

C- Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nữa CNXH).

D- Tư bản của tư nhân.

E- Tư bản của Nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh).

Trong năm loại ấy, loại A là kinh tế lãnh đạo và phát triển mau hơn cả. Cho nên kinh tế ta sẽ phát triển theo hướng chủ nghĩa xã hội chứ không theo hướng chủ nghĩa tư bản”[1].

Kinh tế quốc doanh là hình thức sở hữu toàn dân, lãnh đạo nền kinh tế quốc dân, cần phải ưu tiên phát triển thành phần kinh tế quốc doanh để tạo nền tảng vật chất cho CNXH và thúc đẩy việc cải tạo xã hội chủ nghĩa (XHCN); Nhà nước phải tạo điều kiện cho nó phát triển. Bác khẳng định, kinh tế hợp tác xã là hình thức sở hữu tập thể của Nhân dân lao động; Nhà nước cần đặc biệt khuyến khích, hướng dẫn và giúp đỡ cho nó phát triển. Hợp tác hóa nông nghiệp là khâu chính thúc đẩy công cuộc cải tạo XHCN ở miền Bắc. Kinh nghiệm qua chứng tỏ rằng hợp tác hóa nông nghiệp ở nước ta, cần phải trải qua hình thức tổ đổi công và hợp tác xã sản xuất nông nghiệp. Đó là việc rất cần thiết. Chúng ta phát triển từng bước vững chắc tổ đổi công và hợp tác xã thì hợp tác hóa nông nghiệp nhất định thành công.

Bác nhấn mạnh: “Đối với những nhà tư sản công thương, Nhà nước không xóa bỏ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của họ; mà ra sức hướng dẫn họ hoạt động nhằm làm lợi cho quốc kế dân sinh, phù hợp với kế hoạch kinh tế của Nhà nước. Đồng thời Nhà nước khuyến khích và giúp đỡ họ cải tạo theo CNXH bằng hình thức công tư hợp doanh và những hình thức cải tạo khác”[2]. Kinh tế tư bản Nhà nước, được Nhà nước khuyến khích, giúp đỡ các nhà tư bản đi theo CNXH và hướng dẫn hoạt động kinh tế theo một kế hoạch thống nhất.

Bác cho rằng, “Đối với người làm thủ công và lao động riêng lẻ khác, Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của họ, ra sức hướng dẫn và giúp đỡ họ cải tiến cách làm ăn, khuyến khích họ tổ chức hợp tác xã sản xuất theo nguyên tắc tự nguyện”[3].

Bác khẳng định, kinh tế quốc doanh là công. Nó là nền tảng và sức lãnh đạo của nền kinh tế dân chủ mới. Cho nên chúng ta phải ra sức phát triển nó và Nhân dân ta phải ủng hộ nó; những nhà tư bản dân tộc và kinh tế cá nhân của nông dân và thủ công nghệ là tư. Đó cũng là lực lượng cần thiết cho cuộc xây dựng kinh tế nước nhà. Cho nên Chính phủ cần giúp họ phát triển; nhà tư bản thì không khỏi bóc lột. Nhưng Chính phủ ngăn cấm họ bóc lột công nhân quá tay. Chủ và thợ đều tự giác tự động, tăng gia sản xuất lợi cả đôi bên.

Bác cho rằng: “Đẩy mạnh cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công, những người lao động riêng lẻ khác và đối với thành phần kinh tế tư bản tư doanh, đồng thời nó mở mang và tăng cường lực lượng của thành phần kinh tế quốc doanh, thúc đẩy việc phát triển kinh tế theo chủ nghĩa xã hội”[4].

Theo Bác: “Chúng ta phải phát triển thành phần kinh tế quốc doanh để tạo nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội và thúc đẩy việc cải tạo xã hội chủ nghĩa. Hợp tác hóa nông nghiệp là khâu chính thúc đẩy công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc”[5].

Phải phát triển kinh tế quốc doanh để tạo nền tảng cho kinh tế XHCN; khuyến khích kinh tế hợp tác xã với các hình thức đa dạng, nhấn mạnh nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ, Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất cho họ, hướng dẫn và giúp họ cải tiến cách làm ăn.

Người cho rằng: “Còn giai cấp tư sản ở ta thì họ có xu hướng chống đế quốc, có xu hướng yêu nước… vì tư sản nước ta bị Tây, Nhật áp bức, khinh miệt, họ căm tức tư sản Nhật, Pháp, cho nên, nếu mình thuyết phục khéo, lãnh đạo khéo, họ có thể hướng theo chủ nghĩa xã hội”[6].

Như vậy, Bác đã kế thừa và vận dụng sáng tạo lý luận của V.I.Lênin về tính chất nhiều thành phần của nền kinh tế quá độ lên CNXH, và nhận thức cơ cấu các thành phần kinh tế ở Việt Nam trong từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Nhận thức của Bác về nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam không những tuân thủ quy luật chung của quá trình đi lên CNXH, mà còn thể hiện sự đánh giá sâu sắc tính đặc thù của những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội khi bắt đầu xây dựng CNXH. Những nhận thức đó đã tạo cơ sở cho những quyết sách khoa học ở Hồ Chí Minh và Đảng ta trên lĩnh vực kinh tế trong quá trình xây dựng CNXH ở miền Bắc trước đây và trên phạm vi cả nước sau này.

Thứ hai, vận dụng của Đảng ta về thành phần kinh tế

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thành phần kinh tế vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm nghiên cứu, lý giải, làm sáng tỏ cả lý luận và thực tiễn vấn đề về thành phần kinh tế và khẳng định, đặc điểm có tính quy luật của TKQĐ lên CNXH là tồn tại lâu dài nhiều thành phần kinh tế dựa trên nhiều loại hình sở hữu khác nhau. Nền kinh tế nhiều thành phần là đặc trưng của TKQĐ lên CNXH.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI xác định: Xuất phát từ sự đánh giá những tiềm năng tuy phân tán nhưng rất quan trọng trong Nhân dân, cả về sức lao động, kỹ thuật, tiền vốn, khả năng tạo việc làm, chúng ta chủ trương: đi đôi với việc phát triển kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, tăng cường nguồn tích lũy tập trung của Nhà nước và tranh thủ vốn ngoài nước, cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế khác nhau, đồng thời chỉ ra, ở nước ta các thành phần kinh tế đó là: “Kinh tế XHCN; kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa (thợ thủ công, nông dân cá thể, những người buôn bán và kinh doanh dịch vụ cá thể); kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức, mà hình thức cao là công tư hợp doanh; kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc trong một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và các vùng núi cao khác”[7].

Đại hội VII nêu rõ: “Trong nền kinh tế thị trường, với quyền tự do kinh doanh được pháp luật bảo đảm, từ ba loại sở hữu cơ bản, sẽ hình thành nhiều thành phần kinh tế với những hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng: kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển trong những ngành và lĩnh vực then chốt; kinh tế tập thể, với hình thức phổ biến là hợp tác xã, phát triển rộng rãi và đa dạng trong các ngành, nghề với quy mô và mức độ tập thể hóa khác nhau, trên cơ sở tự nguyện góp vốn, góp sức của những người lao động. Kinh tế cá thể được khuyến khích phát triển. Kinh tế tư bản tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động. Kinh tế gia đình không phải là một thành phần kinh tế độc lập nhưng được khuyến khích phát triển mạnh”[8].

Đại hội VIII tiếp tục khẳng định: Thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, gồm có: kinh tế nhà nước; kinh tế hợp tác mà nòng cốt là các hợp tác xã; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế cá thể tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân. Đại hội IX xác định: Trong TKQĐ có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, gồm: kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế cá thể tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Đại X của Đảng khẳng định, ở Việt Nam có ba chế độ sở hữu là toàn dân, tập thể và tư nhân, trên cơ sở đó hình thành nhiều thành phần kinh tế gồm: kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Đại hội XI tiếp tục khẳng định: “Phát triển nhanh, hài hòa các thành phần kinh tế. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Phát triển kinh tế tập thể mà nòng cốt là hợp tác xã. Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế. Khuyến khích kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển theo quy hoạch”[9].

Đến Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định: “Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế …”[10].

Tóm lại, kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên CNXH và thể hiện tinh thần dân chủ về kinh tế bảo đảm cho mọi người được tự do làm ăn theo pháp luật. Các thành phần kinh tế trong TKQĐ lên CNXH, được Đảng ta vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh Việt Nam, từ đó từng Đại hội trong thời kỳ đổi mới luôn thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần. Nhà nước cần phát huy sức mạnh tổng hợp các thành phần kinh tế, qua đó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của nước ta./.

 ………………

(1). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, t.7, tr.247-248.

(2). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, t.9, tr.589.

(3). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, t.9, tr.589.

(4). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, t.9, tr.589-590.

(5). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, t.9, tr.589.

(6). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, t.8, tr.227.

(7). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb.CTQG, H.1986, tr.56-57.

(8). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb.CTQG, H.1991, tr.115-117.

(9). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.CTQG, H.2011, tr.101- 102.

(10). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H.2016, tr.102-103. 

Số lượt xem: 102

ThS. Huỳnh Thanh Tân - Giảng viên Khoa Lý luận cơ sở

Dịch vụ công Quốc gia Hệ thống văn bản của tỉnh CSDL hộ kinh doanh Thư điện tử công vụ Một cửa điện tử
© TRƯỜNG CHÍNH TRỊ CHÂU VĂN ĐẶNG TỈNH BẠC LIÊU
Địa chỉ: Số 7, Đường Nguyễn Tất Thành, phường 1, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu
Điện thoại: 0781. 3823965 Fax: 0781. 3829654