Liên kết web
Thăm dò
Thống kê truy cập

null Hồ Chí Minh – Người đặt nền tảng cho một chế độ bầu cử thật sự dân chủ, tự do, bình đẳng

Tin tổng hợp
Thứ năm, 19/05/2016, 10:17
Màu chữ Cỡ chữ
Hồ Chí Minh – Người đặt nền tảng cho một chế độ bầu cử thật sự dân chủ, tự do, bình đẳng

     Mừng sinh nhật Bác Hồ kính yêu (19/5/1890 – 19/5/2016), trong không khí cả nước đang tích cực, khẩn trương chuẩn bị cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và bầu cửđại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, chúng ta không khỏi bồi hồi ôn lại những thành quả quan trọng của Cuộc tổng tuyển cử đầu tiên (06/01/1946), một mốc son chói lọi, đánh dấu bước phát triển nhảy vọt về thể chế dân chủ, mở ra một thời kỳ phát triển mới của dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đóng một vai trò rất quan trọng trong thắng lợi chung của cuộc Tổng tuyển cử. Người đã đặt nền tảng vững chắc cho một chế độ bầu cử thật sự dân chủ, tự do, bình đẳng.

Bác đi bỏ phiếu cử tri tại Hà Nội năm 1960

    Ngay sau khi mới thành lập, chính quyền Cách mạng của nhân dân Việt Nam phải đối phó với một tình thế hết sức hiểm nghèo. Dưới danh nghĩa quân Đồng minh tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật, gần 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch và hàng vạn quân Anh đã kéo vào nước ta. Theo chân quân Anh, ngày 23-9-1945, thực dân Pháp đã nổ súng ở Sài Gòn mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai. Lực lượng Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) do Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam cầm đầu và Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) do Nguyễn Hải Thần chỉ huy, theo chân quân Tưởng kéo về nước chống phá cách mạng. Trong khi đó, chính quyền cách mạng lại tiếp thu một nền kinh tế đổ nát do chế độ cũ để lại, công nghiệp phá sản, nông nghiệp đình đốn, tài chính kiệt quệ, nạn đói đe doạ trầm trọng, hơn 90% dân số mù chữ, tệ nạn xã hội nặng nề,... Giặc ngoài thù trong, khó khăn chồng chất đặt chính quyền cách mạng trước tình thế "ngàn cân treo sợi tóc".

Trong hoàn cảnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bình tĩnh, sáng suốt lãnh đạo chính quyền cách mạng non trẻ thực hiện sáu nhiệm vụ cấp bách. Một trong sáu nhiệm vụ cấp bách đó là tổ chức ngay cuộc Tổng tuyển cử nhằm xây dựng Hiến pháp và bầu ra một chính phủ chính thức. Ngày 03-9-1945, tức là một ngày sau khi Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái 18 tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu, nghèo, tôn giáo, dòng giống v.v.."(1).
Có thể nói việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị tổ chức cuộc Tổng tuyển cử trong cả nước là hết sức táo bạo nhưng rất sáng suốt và kịp thời. Trong hoàn cảnh chính quyền cách mạng còn rất non trẻ, lại chịu sự chống phá của rất nhiều kẻ thù. Đa số nhân dân lao động chưa quen với việc bầu cử thực hiện quyền làm chủ của mình, trình độ dân trí thấp, tỉ lệ mù chữ cao. Do đó, một số người rất lo lắng cho sự thành công của cuộc Tổng tuyển cử. Tuy nhiên, với nhãn quan chính trị sắc bén và lòng tin tuyệt đối vào nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thấy tầm quan trọng đặc biệt của việc tổ chức Tổng tuyển cử vào thời điểm này. Về đối nội, Tổng tuyển cử sẽ bầu ra Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân, từ đó quy định Hiến pháp và bầu ra một chính phủ chính thức, thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. Tổng tuyển cử cũng là dịp để huy động người tài đức tham gia gánh vác công việc của nước nhà. Về đối ngoại, tổng tuyển cử bầu ra các cơ quan nhà nước một cách hợp pháp là để khẳng định với thế giới về một nước Việt Nam độc lập, có chủ quyền, do nhân dân lao động làm chủ. Đồng thời, việc bầu ra một chính phủ chính thức sẽ đập tan âm mưu chia rẽ dân tộc của bọn Việt Quốc, Việt Cách, vạch trần bản chất tay sai, bịp bợm của chúng, loại bỏ chúng ra khỏi đời sống chính trị của đất nước.
Sau khi quyết định tổ chức Tổng tuyển cử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với Chính phủ lâm thời khẩn trương soạn thảo và ban hành các sắc lệnh tạo cơ sở pháp lý cho cuộc Tổng tuyển cử. Thông qua các sắc lệnh này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lần đầu tiên phát họa những nét cơ bản nhưng toàn diện, sâu sắc về một chế độ bầu cử thật sự dân chủ, tự do, bình đẳng của một nước Việt Nam độc lập.
Ngày 8-9-1945, Hồ Chí Minh - Chủ tịch Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ra Sắc lệnh số 14-SL về cuộc Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội. Bản sắc lệnh ghi rõ: “Chiểu theo Nghị quyết của Quốc dân đại biểu Đại hội họp ngày 16, 17-8-1945, tại Khu giải phóng, ấn định rằng nước Việt Nam sẽ theo chính thể dân chủ cộng hoà, và Chính phủ nhân dân toàn quốc sẽ do một Quốc dân đại hội bầu theo lối phổ thông đầu phiếu cử lên; Xét rằng nhân dân Việt Nam do Quốc dân đại hội thay mặt là quyền lực tối cao để ấn định cho nước Việt Nam một Hiến pháp dân chủ Cộng hoà; Xét rằng trong tình thế hiện giờ sự triệu tập quốc dân đại hội không những có thể thực hiện được mà lại rất cần thiết để cho toàn dân tham gia vào công cuộc củng cố nền độc lập và chống lại nạn ngoại xâm...”(2). Bản sắc lệnh đã nêu rõ việc tổ chức Tổng tuyển cử là rất cần thiết và phù hợp với ý Đảng, lòng dân, theo đúng Nghị quyết của Quốc dân đại biểu Đại hội. Việc tổ chức Tổng tuyển cử là để toàn dân thực hiện quyền làm chủ của mình, ấn định cho nước Việt Nam một Hiến pháp dân chủ, từ đó củng cố nền độc lập, chống lại âm mưu phá hoại của kẻ thù.
Tính chất dân chủ, tự do, bình đẳng của Tổng tuyển cử được thể hiện rõ ở quy định tại Điều 2 Sắc lệnh 14 và Sắc lệnh 51: Tất cả những công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên không phân biệt nam nữ đều có quyền bầu cử và ứng cử...(3). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải thích quy định bầu cử quan trọng này trên báo Cứu Quốc ngày 30/12/1945: "... hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử. Không chia gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó. Vì lẽ đó, cho nên Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng; tức là dân chủ, đoàn kết"(4). Đây là một trong những quy định nền tảng, quan trọng đảm bảo quyền tự do, dân chủ, bình đẳng của mọi công dân trong Tổng tuyển cử.


(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 8
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 133
 

 

Quyền tự do ứng cử của công dân là một trong những quyền được Chủ tịch Hồ Chí Minh và những người soạn thảo thể lệ bầu cử đặc biệt quan tâm. Quyền này được quy định khá chi tiết và độc đáo tại các điều 11, 12 Sắc lệnh 51 ngày 17-10-1945. Điều 11 ghi rõ: “chậm nhất là 15 ngày trước ngày bỏ phiếu, công dân có quyền bầu cử muốn ứng cử chỉ cần gửi thẳng đơn ứng cử lên UBND tỉnh (hay thành phố) nơi mình ra ứng cử kèm theo giấy chứng nhận của UBND nguyên quán hoặc nơi trú ngụ là đủ điều kiện ứng cử”(5). Còn Điều 12 quy định: “Người ứng cử được tự do ứng cử nơi mình chọn lấy nhưng chỉ một nơi ấy thôi”(6). Hơn nữa, Sắc lệnh số 71 ngày 2-12-1945 đã sửa đổi Điều 11 Sắc lệnh 51 để tạo thuận lợi hơn cho người ứng cử, chỉ quy định: "gửi đơn ứng cử cho UBND nơi mình trú ngụ" và "yêu cầu UBND ấy điện cho UBND tỉnh (thành phố) nơi mình xin ứng cử " thì đã được đưa tên vào danh sách ứng cử của tỉnh hoặc thành phố đó. Còn đơn và giấy chứng nhận đủ điều kiện ứng cử sẽ do UBND nơi trú ngụ chuyển sau cho UBND tỉnh (thành phố).
Quyền tự do ứng cử còn thể hiện trong các quy định về tự do vận động tranh cử. Từ Điều 3 đến Điều 6, Sắc lệnh số 51 xác định rõ: người ứng cử được tự do vận động tranh cử nhưng cuộc vận động không được trái với nền dân chủ cộng hoà. Những cuộc tuyên truyền vận động có tính cách phương hại đến nền độc lập và cuộc trị an đều bị cấm.
Bên cạnh quyền tự do, dân chủ, quyền bình đẳng trong bầu cử và ứng cử cũng được quy định rõ trong các sắc lệnh về Tổng tuyển cử. Ngay ở Điều 2 của Sắc lệnh 14 cũng như Sắc lệnh 51 đã quy định rõ: tất cả những công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên không phân biệt nam nữ đều có quyền bầu cử và ứng cử. Quy định nam nữ bình đẳng trong bầu cử và ứng cử là điều đặc biệt tiến bộ đối với một đất nước vừa giành được chính quyền từ tay phong kiến và đế quốc trong khi vẫn còn chịu ảnh hưởng nặng nề của định kiến nho giáo về thân phận của người phụ nữ. Trong khi nhiều nước tư bản tiên tiến như Mỹ, Pháp, Anh, Ý, Thụy Sỹ... phải nhiều năm sau cách mạng tư sản, người phụ nữ mới được hưởng quyền bầu cử, ứng cử. Chính quy định bầu cử bình đẳng không phân biệt nam nữ này đã nâng địa vị người phụ nữ Việt Nam lên ngang hàng với nam giới và phụ nữ các nước tiến bộ trên thế giới.
Để đảm bảo quyền bình đẳng trong ứng cử, các điều 12, 13 của Sắc lệnh 51 ghi rõ: “người ứng cử được tự do ứng cử nơi mình chọn lấy nhưng chỉ một nơi ấy thôi.... Nếu người ứng cử nào ứng cử nhiều nơi hoặc khai gian những giấy chứng thực về điều kiện ứng cử sẽ bị phạt”(7). Quy định này nhằm tránh những gian lận trong quá trình bầu cử, ngăn chặn kẻ địch chui vào bộ máy nhà nước để phá hoại, và quan trọng hơn là bảo vệ quyền bình đẳng giữa những người ứng cử. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã thực hiện nghiêm túc quy định này. Trong quá trình chuẩn bị cho Tổng tuyển cử, nhân dân ngoại thành Hà Nội đã viết thư đề nghị Hồ Chí Minh không phải ra ứng cử, mọi người sẽ suy tôn Người là đại biểu Quốc hội, là Chủ tịch nước. Một số người khác đề nghị Người ra ứng cử ở địa phương mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất trân trọng và viết thư trả lời: “Tôi rất cảm động thấy toàn thể đồng bào ngoại thành Hà Nội đã có lòng quá yêu tôi mà quyết nghị tôi không phải ứng cử trong kỳ Tổng tuyển cử sắp tới. Nhưng tôi là một công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nên không thể vượt qua thể lệ Tổng tuyển cử đã định. Tôi đã ứng cử ở thành phố Hà Nội, nên không thể ra ứng cử ở nơi nào khác nữa”(8). Việc chấp hành nghiêm túc thể lệ bầu cử của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng làm cho nhân dân thêm kính phục Người; đồng thời làm cho mọi người càng có ý thức chấp hành và bảo vệ những nguyên tắc của Tổng tuyển cử.
Những quy định nêu trên của các sắc lệnh về Tổng tuyển cử là cơ sở pháp lý rất quan trọng bảo đảm cho mọi công dân đều có quyền tự do, bình đẳng trong bầu cử và ứng cử. Với những quy định mang tính pháp lý quan trọng này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền tảng vững chắc cho một thể chế bầu cử thực sự tự do, thực sự dân chủ và bình đẳng của một nước Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa.
Trải qua tròn 70 năm kể từ Tổng tuyển cử đầu tiên (06/01/1946), pháp luật về bầu cử đã được xây dựng ngày càng hoàn thiện hơn, chặt chẽ và hiện đại hơn, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đất nước đang trên đà đẩy mạnh công cuộc đổi mới trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng. Tuy nhiên, những quy định pháp lý đầu tiên về bầu cử hết sức tiến bộ, nhân văn và không kém phần hiện đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị lịch sử. Đó chính là những “viên gạch” vững chắc tạo nền tảng pháp lý cho hầu hết các cuộc bầu cử Quốc hội và bầu cửhội đồng nhân dân các cấp từ khi nước nhà giành được độc lập cho đến nay. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và bầu cửđại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021 sắp diễn ra vào ngày 22/5/2016 tới đây cũng không là ngoại lệ. Trên nền tảng đó, Cuộc bầu cử chắc chắn sẽ diễn ra thực sự dân chủ, tự do và hoàn toàn bình đẳng, nhằm xây dựng và hoàn thiện một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.
 


(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 116

                                                                                                                                                                                       

                                                                                                                                                                                   ThS. Nguyễn Bình Tân

Q.Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy

Số lượt xem: 31

Dịch vụ công Quốc gia Hệ thống văn bản của tỉnh CSDL hộ kinh doanh Thư điện tử công vụ Một cửa điện tử
© TRƯỜNG CHÍNH TRỊ CHÂU VĂN ĐẶNG TỈNH BẠC LIÊU
Địa chỉ: Số 7, Đường Nguyễn Tất Thành, phường 1, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu
Điện thoại: 0781. 3823965 Fax: 0781. 3829654